Ray-Ban, il marchio mondiale dell'eyewear,hogan outlet ha annunciato che il suo classico Ray-Ban Wings è tornato fortemente. L'edizione limitata in oro placcato Ray-Ban di Ray-Ban Golden Wings è scioccante questa estate con il suo atteggiamento e il suo stile ostentato. #RUN FOR WINGS Non ti fa paura in ogni momento del millennio Pubblica una galleria di commenti Ray-Ban, il marchio mondiale dell'eyewear,ray ban outlet italia ha annunciato che il suo classico Ray-Ban Wings è tornato fortemente. L'edizione limitata in oro placcato Ray-Ban di Ray-Ban Golden Wings è scioccante questa estate con il suo atteggiamento e il suo stile ostentato. #RUN FOR WINGS Darti il ​​coraggio di essere senza paura in ogni momento del millennio. Fin dalla sua nascita, Ray-Ban non ha mai smesso di innovare. La nuova serie ha sempre mantenuto il suo stile unico. Ray-Ban Golden Wings brilla come un'ala d'oro con lenti esclusive placcate oro 24K. Coperto da un logo incisione originale, l'esclusivo design Seiko illumina l'estate dei giovani. Il design del telaio dimostra lo spirito senza paura delle fashioniste. Il bordo superiore del ponte e le aste sono in metallo sottile. Il nasello ultraleggero è abilmente sollevato per sostenere l'obiettivo placcato in oro, creando uno stile libero leggero ed energico che rende questa estate sfrenata. Dal 26 giugno,ray ban outlet italia l'edizione limitata in oro placcato Ray-Ban Golden Wings sarà presentata ufficialmente nel flagship store Tmall Ray-Ban. L'edizione limitata è equipaggiata con astuccio per occhiali esclusivo e autentica carta d'identità, che è straordinaria. Ray-Ban è un marchio cool e iconico che porta stili classici e senza tempo,ray ban outlet italia che simboleggia il vero sé e la libera espressione. Il lancio di Ray-Ban Andrea e Ray-Ban Marshal II è l'ultimo portatore dello spirito Ray-Ban. Le combinazioni di colori senza precedenti di Ray-Ban Andrea e Ray-Ban Marshal II e le forme accattivanti e frizzanti ispirano le generazioni più giovani di consumatori a essere "il mio originale". Con la determinazione della sfida faccia a faccia e la determinazione dal cuore,ray ban outlet italia spedirò a gran voce la mia "vera dichiarazione",ray ban outlet italia e insieme a Zhang Yixing, "essere giovane, prendendo il modo più ricercato,ray ban outlet italia facendo il più meraviglioso se stesso." Ray-Ban Andrea RB3595 ha una silhouette classica in metallo quadrato retrò con aste rifinite in acciaio e lenti colorate lavate. Ci sono tre combinazioni di colori uniche, una lente verde scuro con una cornice fumosa e una tempia nera; una lente wash viola chiaro con una cornice nera e un tempio viola chiaro; e una lente lavata azzurra con montatura in oro e aste bianche. Ray-Ban Marshal II RB3648M è stato ispirato da Ray-Ban Marshal,ray ban outlet italia uno dei migliori modelli Ray-Ban al mondo nel 2017. Ray-Ban Marshal II incorpora gli angoli della firma esagonale Ray-Ban esagonale Ray-Ban e le classiche traverse superiori e le aste di Ray-Ban General nella classica struttura elegante e presenta un'elevata qualità nel design del telaio. I contorni danno alle avanguardie un senso di modernità. I colori disponibili sono: lenti polarizzate verdi con montatura in metallo color oro e aste nere; lenti sfumate viola con montatura in metallo color oro e aste bianche; lenti sfumate blu con montatura in metallo nero e aste blu. La nuova serie di Ray-Ban X Zhang Yixing sta arrivando,ray ban outlet italia vi invitano a rilasciare il vero sé quest'estate! , registrati come membro di Ray-Ban, sblocca più eccitante! E Zhang Yixing insieme "tipo" onda del vento!

chỉ số giá tiêu dùng toàn quốc

TÌNH HÌNH KINH TẾ XÃ HỘI THÁNG 3/2018
Tình hình kinh tế xã hội | Tình hình kinh tế xã hội

Tốc độ phát triển một số chỉ tiêu Kinh tế chủ yếu tỉnh Khánh Hòa

tháng 3/2018 so với tháng trước và 3 tháng năm 2018 so với cùng kỳ năm trước

 (%)

Một số chỉ tiêu kinh tế chủ yếu

Tháng 3/2018

so với tháng trước

3 tháng năm 2018 so với cùng kỳ năm trước

Chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp

122,11

106,33

Vốn đầu tư ngân sách nhà nước thực hiện

188,60

98,14

Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

97,94

113,39

Tổng kim ngạch xuất khẩu

230,26

101,09

Tổng kim ngạch nhập khẩu

128,22

119,37

Doanh thu du lịch

95,20

133,08

Khách quốc tế đến Khánh Hòa

94,96

152,06

Chỉ số giá tiêu dùng

99,45

102,12

Chỉ số giá vàng

99,73

100,10

Chỉ số giá đô la Mỹ

100,21

99,73

  

Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ sốgiá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ

Tháng 3 năm 2018

 

Chỉ số giá tháng 3/2018 so với (%)

Bình 
năm 2018 so
cùng
kỳ

Kỳ gốc 2009

Cùng tháng năm trước

Tháng 12 năm trước

Tháng trước

Chỉ số giá tiêu dùng

 

102,12

100,52

99,45

 

I. Hàng ăn và dịch vụ ăn uống

 

102,51

100,95

99,16

 

   Trong đó:  1- Lương thực

 

109,91

106,74

99,96

 

                    2- Thực phẩm

 

100,95

98,88

98,54

 

                    3- Ăn uống ngoài gia đình

 

102,62

102,62

100,00

 

II. Đồ uống và thuốc lá

 

101,00

100,00

100,00

 

III. May mặc, mũ nón, giầy dép

 

100,89

100,05

99,95

 

IV. Nhà ở, điện, nuớc, chất đốt,VLXD

 

100,76

99,84

99,76

 

V. Thiết bị và đồ dùng gia đình

 

100,38

100,29

100,01

 

VI. Thuốc và dịch vụ y tế

 

110,26

100,00

100,00

 

VII. Giao thông

 

102,87

100,31

97,98

 

VIII. Bưu chính viễn thông

 

100,00

100,00

100,00

 

IX. Giáo dục

 

101,37

100,00

100,00

 

X. Văn hoá, giải trí và du lịch

 

102,75

102,80

99,72

 

XI. Hàng hoá và dịch vụ khác

 

103,40

100,27

99,99

 

Chỉ số giá vàng

 

100,10

100,87

99,73

 

Chỉ số giá đô la Mỹ

 

99,73

100,00

100,21

 

 

Giá Bán Lẻ Hàng Hóa tháng 3 năm 2018

DANH MỤC HÀNG HÓA

ĐVT

THÁNG 3/2018

THÁNG 3/2017

THÁNG 12/2017

Gạo tẻ thường ( ML 202)

đ/kg

11.398

9.898

10.398

Gạo tẻ ngon ( Gò Công)

đ/kg

17.893

16.092

16.893

Gạo nếp thường

đ/kg

17.184

16.684

16.684

Sắn tươi

đ/kg

7.607

7.607

7.607

Thịt lợn mông sắn

đ/kg

82.906

90.978

82.906

Thịt bò bắp

đ/kg

207.668

207.668

207.668

Gà mái ta còn sống  1.5 kg/con

đ/kg

103.834

94.836

94.836

Trứng vịt loại vừa

Đồng /10 quả

26.797

26.797

31.180

Dầu ăn Tường An 1 lít

đ/lít

42.793

41.793

41.793

Đậu xanh hạt loại 1

đ/kg

34.231

34.231

34.231

Đậu nành

đ/kg

17.559

17.559

17.559

Đậu phụng loại 1

đ/kg

45.925

43.729

45.925

Cá thu khúc giữa

đ/kg

277.823

226.469

258.519

Muối hạt

đ/kg

3.291

2.789

2.789

Nước mắm cá cơm 15 độ đạm

đ/lít

23.389

23.389

23.389

Bột ngọt Ạinomoto gói 454 g

đ/kg

62.093

62.093

62.093

Sữa đặt có đường hiệu Ông Thọ

đ/hộp

21.000

21.000

21.000

Nước khoáng VIKODA 500ml

đ/lít

7.975

7.975

7.975

Bia hơi Win – San Migue

đ/lít

7.391

7.391

7.391

Thuốc lá White Hore Khánh Hòa

đ/bao

21.000

21.000

21.000

Đường trắng kết tinh Khánh Hòa

đ/kg

17.674

17.674

17.674

Giấy kẻ ngang 20 tờ/tập

đ/tập

5.378

5.378

5.378

Vitamin B1 – 100mg. lọ 100 viên

đ/100viên

6.188

6.188

6.188

Xi măng đen PC40 Hoàng Thạch

đ/kg

1.736

1.736

1.736

Gạch xây ( gạch ống Tuynen)

đ/viên

952

907

952

Dầu hỏa

đ/lít

14.850

12.848

13.880

Xăng A92

đ/lít

18.700

-

-

Điện sinh hoạt

đ/kwh

1.973

1.888

1.907

Gas đun ( bình 12kg-Shellgas)

đ/kg

27.542

29.208

30.292

Nước máy

đ/m3

5.593

5.616

5.623

Vàng 99.99%

Nghìn đ/chỉ

3.690

3.686

3.658

Đô la Mỹ

đ/USD

22.776

22.837

22.775

 

BÁO CÁO

Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Khánh Hòa

Quý I năm 2018 

                                                 

Năm 2018 có ý nghĩa rất quan trọng, là năm bản lề quyết định việc thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm (2016-2020). Bên cạnh những yếu tố thuận lợi như: Tình hình kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, lạm phát được kiểm soát, một số ngành, lĩnh vực đã phục hồi, đạt mức tăng trưởng khá... nhưng vẫn còn nhiều khó khăn và thách thức tác động tới nền kinh tế, đó là tình hình thế giới và khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp; các thách thức an ninh phi truyền thống ngày càng gay gắt, xu hướng bảo hộ mậu dịch vẫn gia tăng. Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 tác động trên nhiều phương diện, vừa là cơ hội, vừa là thách thức đối với nước ta. Nhu cầu đầu tư phát triển kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội, tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ chủ quyền quốc gia và ứng phó biến đổi khí hậu rất lớn trong khi nguồn lực còn hạn hẹp. Trước tình hình đó, Tỉnh ủy, HĐND và UBND tỉnh Khánh Hòa đã tổ chức quán triệt đến các cấp, các ngành và doanh nghiệp về Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 01/01/2018 của Chính phủ về “Những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo, điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách Nhà nước năm 2018”. Kết quả đạt được của các ngành, lĩnh vực trong quý I năm 2018 như sau:

1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

a. Nông nghiệp

Quý I/2018, các địa phương trong tỉnh tập trung gieo trồng, chăm sóc và thu hoạch các loại cây trồng vụ đông xuân 2017-2018. Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm từ đầu vụ đông xuân tính đến thời điểm 15/3/2018 ước đạt 37.259 ha, bằng 44,29% KH, trong đó cây lương thực 21.980 ha, bằng 40,79%; cây chất bột có củ 2.217,4 ha, bằng 51,23%; cây thực phẩm 2.268,5 ha, bằng 34,15%; cây công nghiệp hàng năm 10.425,3 ha, bằng 54,1%. So cùng kỳ năm trước, tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm giảm 2,13%, trong đó cây chất bột có củ giảm 15,78% chủ yếu giảm diện tích trồng sắn do tiến độ gieo trồng chậm và ảnh hưởng thời tiết lạnh trong những tháng đầu năm; cây công nghiệp hàng năm giảm 5,86% chủ yếu giảm diện tích trồng mía; cây thực phẩm giảm 0,99%; riêng cây lương thực tăng 1,37%, do tăng diện tích trồng lúa. Tính đến nay, toàn tỉnh thu hoạch được 2.800 ha lúa vụ đông xuân sớm, bằng 13,83% diện tích gieo sạ; năng suất khoảng 59,36 tạ/ha, tăng 1,67 tạ/ha so vụ đông xuân năm trước.

Công tác phòng chống dịch ở đàn gia súc, gia cầm được kiểm tra, giám sát chặt chẽ; đồng thời phối hợp với các địa phương triển khai các biện pháp phòng chống dịch bệnh, vệ sinh tiêu độc chuồng trại, kiểm soát các cơ sở kinh doanh, giết mổ đề phòng dịch bệnh xảy ra trên địa bàn tỉnh. Ước tính đến 31/3/2018 đàn trâu có 4.286 con, giảm 0,9% so cùng kỳ năm trước; đàn bò 79.124 con, giảm 0,3%; đàn lợn 151,7 nghìn con, giảm 9% và đàn gia cầm 2.426,5 nghìn con, giảm 5,8%.

b. Lâm nghiệp

Khai thác gỗ từ rừng trồng quý I/2018 được 6.951,3 m3, tăng 9,85% so với cùng kỳ năm trước; củi được 7.018 ste, giảm 2,08% do nhu cầu sử dụng của người dân giảm. Các đơn vị lâm nghiệp tập trung chủ yếu vào chăm sóc, khoanh nuôi tái sinh và bảo vệ rừng; đẩy mạnh công tác phòng chống cháy rừng trong mùa khô và triển khai các giải pháp ngăn chặn nạn chặt phá rừng trái phép. Từ ngày 01/01/2018 đến 08/3/2018 lực lượng kiểm lâm đã phát hiện 86 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, xử lý 52 vụ, tịch thu 166,77 m3 gỗ các loại, thu nộp ngân sách 593 triệu đồng tiền phạt và tiền bán lâm sản tịch thu.

c. Thủy sản

Tổng sản lượng thủy sản quý I/2018 ước được 18.477,1 tấn, giảm 1,46% so cùng kỳ năm trước: Khai thác thủy sản được 18.040,2 tấn, tăng 0,82%, trong đó 15.426,3 tấn cá, tăng 0,79% (riêng cá ngừ đại dương được 578 tấn, giảm 8,28% do sản lượng thấp nên ngư dân chuyển đổi đánh bắt sang nguồn hải sản khác); 126 tấn tôm, tăng 2,36%; 2.487,9 tấn thủy sản khác, tăng 0,92% do thời tiết thuận lợi. Thu hoạch thủy sản nuôi trồng được 436,9 tấn, giảm 49,09%, trong đó 174,7 tấn cá, giảm 35,58%; 158,5 tấn tôm, giảm 49,6%; 103,7 tấn thủy sản khác, giảm 61,93% do ảnh hưởng cơn bão số 12 đã cuốn trôi nhiều lồng, bè thủy sản nên diện tích thu hoạch giảm.

Diện tích nuôi trồng thủy sản quý I/2018 ước được 935,9 ha, giảm 28,57% so cùng kỳ năm trước, do người nuôi đang tập trung tu sửa, cải tạo ao nuôi: Diện tích nuôi cá 81,6 ha, giảm 25,14%; diện tích nuôi tôm 537,1 ha, giảm 26,95%; diện tích nuôi thủy sản khác 317,2 ha, giảm 31,93%.

2. Sản xuất công nghiệp

Chỉ số sản xuất công nghiệp quý I/2018 tăng 6,33% so cùng kỳ năm trước: Ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 8,99%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 8,34%; riêng ngành công nghiệp khai khoáng và ngành sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước giảm lần lượt là 27,13% và 9,28%.

Trong các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo một số ngành có chỉ số sản xuất công nghiệp quý I/2018 tăng khá so cùng kỳ năm trước: Sản xuất đồ uống tăng 57,43%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa tăng 40,9%; sản xuất da và sản phẩm liên quan tăng 19,42%; sản xuất sản phẩm thuốc lá tăng 8,6%; chế biến, chế tạo khác tăng 6,81%. Các ngành có chỉ số sản xuất tăng thấp hoặc giảm như: Sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 5,45%; dệt tăng 1,88%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 1,32%; sản xuất thuốc, hóa dược liệu tăng 0,71%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế giảm 50,32%; in ấn giảm 50,01%; sản xuất trang phục giảm 35,41%; sản xuất máy móc, thiết bị giảm 22,66%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn giảm 10,8%; sản xuất chế biến thực phẩm giảm 6,93% và sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy giảm 3,44%.

Một số sản phẩm có chỉ số sản xuất quý I/2018 tăng so cùng kỳ năm trước: Đường RE tăng 3,5 lần; nước yến tăng 68,91%; bia đóng lon tăng 22,5%; điện thương phẩm tăng 9,48; thuốc lá có đầu lọc tăng 8,6% và sợi tự nhiên tăng 1,88%. Một số sản phẩm có chỉ số giảm như: Cá khác đông lạnh giảm 35,33%; điện sản xuất giảm 34,22%; tủ gỗ giảm 32,74%; cửa sắt giảm 13,28%; cá ngừ đông lạnh giảm 11,69%; tôm đông lạnh giảm 9,87%; đường RS giảm 2,57% và bia đóng chai giảm 2,18%.

Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 3/2018 giảm 4,59% so cùng kỳ năm trước và tăng 26,21% so với tháng trước. Trong quý I/2018, chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 2,35% so cùng kỳ năm trước. So cùng kỳ năm trước, các ngành có chỉ số tiêu thụ tăng cao hơn mức tăng chung của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo như: Sản xuất đồ uống tăng 72,73%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa tăng 72,69%; dệt tăng 21,13%; sản xuất da và sản phẩm liên quan tăng 19,42%; sản xuất máy móc, thiết bị tăng 17,7%; sản xuất thuốc, hóa dược liệu tăng 3,62%. Một số ngành có chỉ số tăng thấp hoặc giảm như: Chế biến, chế tạo khác tăng 1,06%; sản xuất sản phẩm thuốc lá tăng 0,42%; in ấn giảm 50,01%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế giảm 47,54%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn giảm 21,76%; sản xuất và chế biến thực phẩm giảm 14,47%; sản xuất trang phục giảm 9,83%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy giảm 4,65%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác giảm 2,75%.

3. Đầu tư và xây dựng

UBND tỉnh luôn quan tâm quản lý điều hành đầu tư xây dựng trên địa bàn tỉnh, tạo điều kiện thuận lợi trong việc giải quyết các thủ tục hành chính cũng như tháo gỡ khó khăn vướng mắc cho các chủ đầu tư. Bên cạnh đó tăng cường kiểm tra, giám sát tiến độ thực hiện của các dự án đã được cấp phép; thu hồi giấy chứng nhận đầu tư đối với các dự án thực hiện chậm so với tiến độ đã cam kết. Vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngoài nhà nước tập trung thực hiện ở các công trình xây dựng và đầu tư mua sắm, nâng cấp máy móc thiết bị phục vụ sản xuất kinh doanh.

Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội quý I/2018 ước được 7.638,9 tỷ đồng, tăng 10,23% so cùng kỳ năm trước: Vốn nhà nước 1.903,9 tỷ đồng, tăng 8,43% (vốn Trung ương quản lý 753 tỷ đồng; vốn địa phương quản lý 1.150,9 tỷ đồng tăng lần lượt là 11,95% và 6,24%); vốn ngoài nhà nước 5.550 tỷ đồng, tăng 10,83% và vốn đầu tư nước ngoài 185 tỷ đồng, tăng 11,21%. Trong tổng vốn đầu tư phát triển, vốn đầu tư xây dựng cơ bản chiếm tỷ trọng cao nhất 81,94%; vốn đầu tư mua sắm tài sản cố định dùng cho sản xuất không qua xây dựng cơ bản chiếm 10,47%; vốn đầu tư sửa chữa, nâng cấp tài sản cố định chiếm 3,27%; vốn đầu tư bổ sung vốn lưu động chiếm 2,88% và vốn đầu tư khác chiếm 1,44%.

Vốn đầu tư XDCB thuộc nguồn vốn nhà nước tiếp tục thực hiện các công trình chuyển tiếp của năm 2017, các công trình mới trong kế hoạch 2018 đang hoàn tất hồ sơ thiết kế kỹ thuật, dự toán để triển khai trong quý II/2018. Một số công trình có tiến độ thi công với vốn thực hiện khá trong quý I/2018 là: Trụ sở làm việc BQL Vịnh, trụ sở Ban dịch vụ công ích, UBND phường Vĩnh Hòa, đường Pasteur, trường MN Vạn Thạnh, trường MN Vĩnh Thạnh, trường MN Sơn Ca, trường TH Vạn Thắng, trường TH Đất Lành, trường TH Phước Thịnh, trường THCS Vĩnh Thái, trường THCS Bùi Thị Xuân, trường THCS Phan Sào Nam, trường THCS Lê Thanh Liêm, đường Nguyễn Thiện Thuật nối dài, CSHT khu TĐC Hòn Rớ II (Nha Trang); trường TH Cam Phúc Nam, đường Nguyễn Bính, kè bảo vệ sông Trà Long (Cam Ranh); trường MG Anh Đào, trường MG Hoa Hồng, hội trường UBND xã Cam Hải Đông, nhà thi đấu đa năng xã Cam Phước Tây (Cam Lâm); trường MN Vạn Phước, trường MN Xuân Sơn, trường TH Vạn Bình 2, Trung tâm VH xã Vạn Bình, đường Nguyễn Trãi, đường Lạc Long Quân, đường Lý Thường Kiệt, kênh Lòng Chảo, kênh Cây Duối, kè bờ biển Vạn Giã, kè chống sạt lỡ xã Vạn Lương, cầu Ông Dự (Vạn Ninh); khu TĐC Khánh Vĩnh, khu TĐC Gia Lợi, UBND xã Sông Cầu (Khánh Vĩnh); KDC Phú Ân Nam 2, kè và đường số 1 dọc Sông Cái, kè chống sạt lở bờ Bắc thị trấn (Diên Khánh); UBND xã Thành Sơn, trường MN Vành Khuyên, đường Lê Duẩn, đường Trần Bình Trọng, đường vào Khu di tích thác Tà Gụ, Đài tưởng niệm huyện, kè bờ suối Tà Lương, đập dâng Suối Mã, khu TĐC thôn Dốc Trầu (Khánh Sơn)…

Quý I/2018, có 11 công trình khởi công mới với tổng dự toán trên 9,2 tỷ đồng và 24 công trình hoàn thành bàn giao đưa vào sử dụng với tổng vốn đầu tư trên 75,3 tỷ đồng; tạo năng lực mới tăng gồm 2,75 km đường giao thông, 1.920 m2 nhà làm việc, 2.893 m2 trường mẫu giáo, 560 chỗ/16phòng trường học…

4. Thương mại, dịch vụ

a. Tổng mức bán hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Là quý có tết Nguyên đán nên nhu cầu mua sắm, tiêu dùng, vui chơi của người dân tăng đáng kể, ước tổng mức bán hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng toàn tỉnh quý I/2018 được 39.232,86 tỷ đồng, tăng 12,69% so cùng kỳ năm trước: Kinh tế nhà nước được 5.133,86 tỷ đồng, tăng 3,25% trong đó các doanh nghiệp thương mại, dịch vụ nhà nước 4.838,81 tỷ đồng, tăng 2,66% với với các mặt hàng chủ yếu: 92.404 tấn xăng dầu, tăng 8,74%; 147,82 triệu bao thuốc lá, tăng 8,11%; kinh tế tập thể 20,8 tỷ đồng, tăng 8,77%; kinh tế tư nhân, cá thể và hỗn hợp 33.757,74 tỷ đồng, tăng 14,26% và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 320,46 tỷ đồng, tăng 15,06%.

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng quý I/2018 được 22.000,28 tỷ đồng, tăng 13,39% so cùng kỳ năm trước: Ngành thương mại được 14.986,33 tỷ đồng, tăng 12,03% (trong đó hàng may mặc tăng 15,24%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 14,61%; lương thực, thực phẩm tăng 13,35%; hàng hóa khác tăng 12,51%); ngành dịch vụ lưu trú và ăn uống 3.864,61 tỷ đồng, tăng 19,13%; ngành dịch vụ lữ hành và hoạt động hỗ trợ du lịch 613,52 tỷ đồng, tăng 6,43% và ngành dịch vụ 2.535,82 tỷ đồng, tăng 15,06%. 

Chi cục Quản lý thị trường phối hợp với các ngành chức năng tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát tình hình giá cả, ngăn chặn hành vi đầu cơ tích trữ và tự ý tăng giá bất hợp lý, góp phần ổn định sản xuất, đảm bảo đủ nguồn hàng phục vụ nhân dân, giữ gìn môi trường kinh doanh lành mạnh và ổn định tâm lý người tiêu dùng. Trong quý I/2018, đã thực hiện 610 lượt kiểm tra các cơ sở sản xuất kinh doanh, phát hiện 331 vụ vi phạm, xử lý hành chính 331 cơ sở vi phạm, thu nộp ngân sách 1.269 triệu đồng.

b. Du lịch

Nha Trang - Khánh Hòa luôn là điểm du lịch hấp dẫn thu hút du khách trong và ngoài nước. Đặc biệt trong quý I/2018, nhiều hoạt động văn hóa du lịch đặc sắc, mang đậm bản sắc dân tộc đã được tổ chức nhằm phục vụ tốt nhu cầu vui chơi, giải trí cho nhân dân và khách du lịch trong dịp tết Nguyên đán Mậu Tuất như: Hội hoa xuân, biểu diễn Lân - Sư - Rồng, biểu diễn nghệ thuật đường phố, thi đấu cờ người, hát bài chòi, chương trình trống hội chào xuân, hòa tấu nhạc cụ dân tộc, viết thư pháp, các trò chơi dân gian (nặn tò he, đập niêu, làm nón lá truyền thống, biểu diễn xiếc chim, xiếc hải cẩu...). Ước doanh thu du lịch toàn tỉnh quý I/2018 được 4.531,62 tỷ đồng, tăng 33,08% so cùng kỳ năm trước; khách lưu trú được 1.430,09 nghìn lượt người với 4.099,31 nghìn ngày khách, tăng lần lượt là 22,5% và 34,71%, trong đó khách quốc tế 748,5 nghìn lượt khách, tăng 52,06% với 2.713,69 nghìn ngày khách, tăng 62,27%; đã thu hút 6.073,8 nghìn lượt khách tham quan (không tính khách tham quan bằng tàu biển), tăng 37,75%.

c. Xuất, nhập khẩu hàng hóa

Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa trên địa bàn toàn tỉnh quý I/2018 ước được 361,03 triệu USD, tăng 1,09% so cùng kỳ năm trước: Kinh tế nhà nước 12,5 triệu USD, tăng 8,07%; kinh tế tập thể 580 nghìn USD, tăng 47,13%; kinh tế tư nhân 146,39 triệu USD, tăng 10,13%; và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 201,56 triệu USD, giảm 5,04%. Các mặt hàng xuất chủ yếu vào các thị trường Châu Á 100 triệu USD, Châu Âu 165 triệu USD, Châu Mỹ 62 triệu USD,... gồm: 558,1 nghìn USD đá quý, kim loại quý và sản phẩm, tăng 12 lần; 24,09 triệu USD máy móc thiết bị và dụng cụ phụ tùng, tăng 2,9 lần; 365 nghìn USD cao su, tăng 80,69%; 89,6 nghìn USD nguyên phụ liệu dệt may, da, giày, tăng 69,7%; 9,4 triệu USD gỗ, tăng 56,35%; 118,45 triệu USD hàng thủy sản, tăng 31,09%; 517,7 nghìn USD hạt điều, tăng 12,3%. Một số mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu giảm như: 370 nghìn USD sắn và sản phẩm từ sắn, giảm 75,83%; 33,51 triệu USD cà phê, giảm 34,84%; 6,03 triệu USD sản phẩm từ gỗ, giảm 30,76%; 9,84 triệu USD hàng hóa khác, giảm 19,98%; 136,27 triệu USD phương tiện vận tải và phụ tùng, giảm 13,22%; 20,38 triệu USD hàng dệt may, giảm 5,25%.

Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa quý I/2018 ước được 157,76 triệu USD, tăng 19,37% so cùng kỳ năm trước: Kinh tế nhà nước 16 triệu USD, tăng 4,59%; kinh tế tư nhân 65,9 triệu USD, tăng 45,72%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 75,86 triệu USD, tăng 5,89%. Một số mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu tăng cao so cùng kỳ năm trước như: 964,5 nghìn USD hóa chất và sản phẩm hóa chất, tăng 4,4 lần; 475,8 nghìn USD lúa mỳ, tăng 2,7 lần; 4,07 triệu USD thức ăn gia súc và nguyên liệu, tăng 1,24 lần; 1,96 triệu USD dược phẩm và nguyên phụ liệu dược phẩm, tăng 1,22 lần; 24,85 triệu USD sắt thép các loại, tăng 1,05 lần; 3,59 triệu USD kim loại thường khác và sản phẩm, tăng 81,65%; 578,8 nghìn USD sữa và sản phẩm từ sữa, tăng 52,8%; 5,85 triệu USD vải các loại, tăng 46,5%; 53,94 triệu USD hàng thủy sản, tăng 24,64%; 2,18 triệu USD nguyên phụ liệu dệt, may, da, giày, tăng 17,75%; 14,64 triệu USD nguyên phụ liệu thuốc lá, tăng 10,45%. Các mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu giảm: 317,7 nghìn USD gỗ và sản phẩm từ gỗ, giảm 93,86%; 15,68 triệu USD hàng hóa khác, giảm 12,08%; 533,7 nghìn USD chất dẻo nguyên liệu, giảm 6,71%; 27,16 triệu USD máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác, giảm 2,44%.

5. Giá cả

a. Chỉ số giá tiêu dùng

Nhu cầu tiêu dùng của người dân sau tết Nguyên đán giảm mạnh, giá cả các mặt hàng có xu hướng giảm và trở lại giá của ngày thường đã ảnh hưởng đến chỉ số giá tiêu dùng tháng 3/2018 giảm 0,55% so tháng trước. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, có 6 nhóm hàng có chỉ số giá giảm so tháng trước là: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,84% (trong đó, lương thực giảm 0,04%; thực phẩm giảm 1,46%); may mặc, mũ nón, giày dép giảm 0,05%; nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 0,24%; giao thông giảm 2,02%; văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,28%; hàng hóa và dịch vụ khác giảm 0,01%. Các nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá ổn định như: Đồ uống và thuốc lá; thuốc và dịch vụ y tế; bưu chính viễn thông; giáo dục; riêng chỉ số giá nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,01%.

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 03/2018 tăng 0,52% so với tháng 12/2017 và tăng 2,12% so cùng tháng năm trước. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân quý I/ 2018 tăng 2,34% so với bình quân cùng kỳ năm trước. Một số nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng so tháng 12/2017 như: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,95%; may mặc, mũ nón, giày, dép tăng 0,05%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,29%; giao thông tăng 0,31%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 2,8%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,27%. Nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 0,16%. Các nhóm đồ uống và thuốc lá; thuốc và dịch vụ y tế; bưu chính viễn thông; giáo dục có chỉ số giá ổn định.

Giá bán lẻ bình quân chung một số mặt hàng tháng 3/2018: Gạo tẻ ngon (Gò Công) 17.893 đồng/kg; gạo nếp thường 17.184 đồng/kg; gà mái ta còn sống 103.834 đồng/kg; thịt lợn mông sấn 82.906 đồng/kg; thịt bò bắp 207.668 đồng/kg; trứng vịt 26.797 đồng/10 quả; cá thu khúc giữa 277.823 đồng/kg; dầu ăn Tường An 42.793 đồng/lít; đường trắng kết tinh Khánh Hòa sản xuất 17.674 đồng/kg; sữa Ông Thọ 380g 21.000 đồng/hộp; bột ngọt AJINOMOTO 62.093 đồng/gói; gas đun (bình 12 kg-Shellgas) 330.504 đồng/bình; vàng 99,99% 3.690 nghìn đồng/chỉ; đô la Mỹ 22.776 đồng/USD.

b. Chỉ số giá vàng và đô la Mỹ

Chỉ số giá vàng tháng 3/2018 giảm 0,27% so tháng trước; tăng 0,87% so với tháng 12/2017 và tăng 0,1% so cùng tháng năm trước. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 3/2018 tăng 0,21% so tháng trước và giảm 0,27% so cùng tháng năm trước.

6. Vận tải, bưu chính, viễn thông

a. Vận tải

Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải quý I/2018 ước được 1.608,39 tỷ đồng, tăng 9,33% so cùng kỳ năm trước: Vận tải hành khách được 511,42 tỷ đồng, tăng 11,68%; vận tải hàng hóa được 759,2 tỷ đồng, tăng 12,84%; kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải thuộc đường bộ và đường thủy được 337,78 tỷ đồng, giảm 0,79%. Trong tổng doanh thu vận tải: Vận tải đường bộ được 1.060,85 tỷ đồng, tăng 13,57% so cùng kỳ năm trước; vận tải đường thủy 57,08 tỷ đồng, tăng 12,89%; vận tải đường sắt 67 tỷ đồng, tăng 4,93%; đường hàng không (chỉ tính Vietnam Airlines) 85,69 tỷ đồng, tăng 4,29%.

Vận chuyển hành khách đường bộ và đường thủy quý I/2018 ước được 12.445 nghìn lượt người, tăng 12,76% so cùng kỳ năm trước (đường bộ được 11.880,7 nghìn lượt người và đường biển được 564,3 nghìn lượt người, tăng lần lượt là 12,83% và 11,3%); luân chuyển hành khách 678.242,4 nghìn lượt người.km, tăng 12,15% (đường bộ 672.721,7 nghìn lượt người.km và đường biển 5.520,7 nghìn lượt người.km tăng lần lượt là 12,16% và 10,61%).

Vận chuyển hàng hóa đường bộ và đường thủy quý I/2018 ước được 9.457 nghìn tấn, tăng 12,05% so cùng kỳ năm trước (đường bộ được 9.367,2 nghìn tấn và đường biển được 89,8 nghìn tấn, tăng lần lượt là 12,03% và 13,67%); luân chuyển hàng hóa 893.471 nghìn tấn.km, tăng 12,03% (đường bộ 723.158 nghìn tấn.km và đường biển 170.313 nghìn tấn.km, tăng lần lượt là 11,57% và 14,02%).

Vận chuyển hành khách đường sắt quý I/2018 ước được 208.049 lượt người, tăng 6,48%; luân chuyển hành khách 79.539,01 nghìn lượt người.km, tăng 2,53%; vận chuyển hàng hóa 4.393 tấn, tăng 19,5%; luân chuyển hàng hóa 4.139,33 nghìn tấn.km, tăng 4,02%. Vận chuyển hành khách đường hàng không của Vietnam Airlines đón được 269.371 lượt người lên xuống sân bay với 922 lần cất và hạ cánh; tăng lần lượt là 5,2% và 0,55% so cùng kỳ năm trước.

b. Bưu chính, viễn thông

Tính đến quý I/2018, số thuê bao điện thoại phát triển mới được 3.953 thuê bao, nâng tổng số thuê bao điện thoại trên toàn tỉnh đến nay là 173.499 thuê bao (74.452 thuê bao cố định và 99.047 thuê bao di động trả sau); tổng doanh thu bưu chính, viễn thông ước được 446,92 tỷ đồng, tăng 14,17% so cùng kỳ năm trước; với 15 nghìn bưu kiện đi có cước, tăng 6,38%; 28,97 nghìn bức thư và điện chuyển tiền, tăng 6,16%; phát hành báo chí được 5.724 nghìn tờ, cuốn, tăng 10,65%.

7. Tài chính, ngân hàng

a. Tài chính

Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh quý I/2018 ước được 6.127,71 tỷ đồng, tăng 27,11% so cùng kỳ năm trước: Thu từ hoạt động xuất nhập khẩu 3.037,05 tỷ đồng, tăng 81,97% và thu từ sản xuất kinh doanh trong nước 3.090,66 tỷ đồng, giảm 1,94%. Trong tổng thu nội địa có các khoản thu tăng như: Thu tiền sử dụng đất 346,66 tỷ đồng, tăng 53,97%; thu lệ phí trước bạ 108,02 tỷ đồng, tăng 47,95%; thu cổ tức và lợi nhuận sau thuế 193,97 tỷ đồng, tăng 30,01%; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 101,34 tỷ đồng, tăng 25,91%; thu xổ số kiến thiết 75,21 tỷ đồng, tăng 9,76%; thu thuế bảo vệ môi trường 164,03 tỷ đồng, tăng 5,19%. Các khoản thu giảm như: Thu tiền cho thuê mặt đất, mặt nước 98,42 tỷ đồng, giảm 1,64%; thu từ khu vực công thương nghiệp ngoài quốc doanh 940,73 tỷ đồng, giảm 4,19%; thu từ doanh nghiệp nhà nước trung ương 101,23 tỷ đồng, giảm 9,02%; thu phí và lệ phí 146,1 tỷ đồng, giảm 10,92%; thu thuế thu nhập cá nhân 194,14 tỷ đồng, giảm 15,56%; thu khác ngân sách và thu ngân sách xã 57,57 tỷ đồng, giảm 15,76%; thu từ doanh nghiệp nhà nước địa phương 558,93 tỷ đồng, giảm 22,3%; thu thuế sử dụng đất phi nông nghiệp 1,1 tỷ đồng, giảm 34,91%; thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản 3,16 triệu đồng, giảm 79,98%; thu tiền bán và thuê nhà ở thuộc sở hữu nhà nước 52 triệu đồng, giảm 99,27%.

Tổng chi cân đối ngân sách nhà nước địa phương quý I/2018 ước được 2.553,74 tỷ đồng, bằng 25,33% dự toán, trong đó chi đầu tư phát triển được 1.275,33 tỷ đồng, bằng 34,19% (riêng chi đầu tư xây dựng cơ bản 354,11 tỷ đồng, bằng 40,9%); chi thường xuyên 1.274,8 tỷ đồng, bằng 21,01% với các khoản chi như: Chi sự nghiệp kinh tế 148,9 tỷ đồng, bằng 17,16%; chi sự nghiệp văn xã 782,03 tỷ đồng, bằng 21,82%; chi quản lý hành chính 280,12 tỷ đồng, bằng 24,12%; chi quốc phòng an ninh 38,19 tỷ đồng, bằng 19,97%; chi khác ngân sách 25,56 tỷ đồng, bằng 9,71%. So cùng kỳ năm trước, tổng chi cân đối ngân sách nhà nước địa phương tăng 7,41%, trong đó chi đầu tư phát triển tăng 5,6%, chi thường xuyên tăng 9,11%.

b. Ngân hàng

Trên địa bàn tỉnh hiện có 37 chi nhánh Tổ chức tín dụng và 04 Quỹ tín dụng với 160 điểm giao dịch ngân hàng; 317 máy ATM. Lãi suất huy động VNĐ kỳ hạn dưới 1 tháng là 0,3%-1%/năm; lãi suất kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng là 4,3%-5,5%/năm; lãi suất kỳ hạn từ 6 tháng đến dưới 12 tháng là 5,3%-6,5%/năm; đối với kỳ hạn từ 12 tháng trở lên là 6,5%-7,5/năm; lãi suất cho vay ngắn hạn bằng VNĐ áp dụng cho các đối tượng ưu tiên là 5,3%-6,5%/năm và trung dài hạn 6,5%-10%/năm; cho vay lĩnh vực sản xuất kinh doanh khác, ngắn hạn ở mức 6,5%-9%/năm, trung dài hạn 9,3%-11,5%/năm. Lãi suất cho vay USD là 2,5%-4%/năm đối với ngắn hạn, 3%-6,5%/năm đối với trung và dài hạn.

Các chi nhánh Tổ chức tín dụng đã đáp ứng kịp thời các nhu cầu vay vốn SXKD hàng hóa phục vụ Tết với lãi suất và các điều kiện ưu đãi, góp phần bình ổn thị trường trong dịp Tết. Thực hiện tốt các chương trình kinh tế, mặt bằng lãi suất ổn định tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng tiếp cận vốn ngân hàng. Đồng thời, cân đối nguồn vốn cung ứng kịp thời cho các doanh nghiệp đi vào hoạt động kinh doanh trở lại sau kỳ nghỉ Tết. Đến cuối quý I/2018, huy động vốn toàn tỉnh ước được 75.520 tỷ đồng, tăng 17,05% so cùng kỳ năm trước: Huy động bằng VNĐ 73.420 tỷ đồng, tăng 17,32%; huy động bằng ngoại tệ 2.100 tỷ đồng, tăng 8,14%; dư nợ cho vay ước được 69.380 tỷ đồng, tăng 27,11%: Dư nợ bằng VNĐ 64.420 tỷ đồng, tăng 28,63%; dư nợ bằng ngoại tệ 4.960 tỷ đồng, tăng 10,17%. Nguồn vốn tín dụng được phân bổ hợp lý, hướng tới các lĩnh vực SXKD, tập trung các đối tượng ưu tiên. Cơ cấu dư nợ tín dụng theo ngành kinh tế phù hợp với định hướng phát triển của tỉnh. Thị trường vàng, ngoại tệ ổn định, đáp ứng nhu cầu mua bán của khách hàng. Hệ thống thanh toán hoạt động tốt, đáp ứng nhu cầu thanh toán, đổi tiền của người dân và khách du lịch.

8. Một số tình hình xã hội

a. Đời sống dân cư và đảm bảo an toàn xã hội

Nhìn chung, sản xuất kinh doanh tiếp tục phát triển, các hoạt động thương mại dịch vụ liên tục tăng cả về hình thức kinh doanh và chất lượng phục vụ. An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững, nhiều chính sách an sinh xã hội được thực hiện. Bên cạnh đó, sự quan tâm hỗ trợ của các tổ chức xã hội, các doanh nghiệp đã góp phần nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống các tầng lớp dân cư trong tỉnh.

Đời sống cán bộ, công nhân viên chức và người lao động hưởng lương ổn định. Các doanh nghiệp đã thực hiện điều chỉnh lương tối thiểu vùng theo Nghị định số 141/2017/NĐ-CP ngày 07/12/2017 của Chính phủ; đảm bảo thực hiện việc trả lương, tham gia các chế độ BHXH đối với người lao động theo đúng quy định của pháp luật.

Đến nay, toàn tỉnh chưa xảy ra thiệt hại do thiên tai và chưa có hiện tượng thiếu đói trong dân cư, các chương trình chính sách hỗ trợ vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi tiếp tục được triển khai đồng bộ, công tác cứu trợ xã hội được đảm bảo công khai, công bằng, đúng mục đích, đúng đối tượng. Công tác đào tạo nghề được quan tâm, trong quý I/2018 toàn tỉnh đã tổ chức đào tạo nghề cho 5.813 người có trình độ sơ cấp và đào tạo thường xuyên. UBND tỉnh đã ban hành kế hoạch đào tạo nghề cho lao động nông thôn năm 2018, cụ thể: Giao các địa phương đào tạo nghề phi nông nghiệp cho 2.184 lao động, kinh phí 4,75 tỷ đồng; giao Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đào tạo nghề nông nghiệp cho 1.015 lao động, kinh phí 2,3 tỷ đồng.

Nhân dịp tết Nguyên đán Mậu Tuất, Tỉnh ủy, UBND tỉnh, các cơ quan Trung ương và địa phương đã thăm và tặng quà cho các đối tượng chính sách, người có công cách mạng, các hộ đồng bào dân tộc thiểu số, các chiến sĩ Trường Sa, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn... Đã thăm và tặng quà Tết của Chủ tịch nước cho 69 cụ tròn 100 tuổi với tổng giá trị 79 triệu đồng; thăm, tặng quà cho người có công cách mạng theo Quyết định số 47/QĐ-CTN ngày 15/01/2018 của Chủ tịch nước và Công văn số 220/LĐTBXH-NCC ngày 19/01/2018 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cho 13.200 đối tượng người có công với tổng trị giá 2,7 tỷ đồng; thăm và tặng quà Tết của tỉnh cho 16.500 đối tượng bằng ngân sách địa phương với tổng số tiền 7,1 tỷ đồng; thăm, tặng quà cho 80 gia đình chính sách tiêu biểu và 54 đơn vị tập thể với tổng số tiền 188 triệu đồng; tặng quà Tết cho 19.144 hộ nghèo, tổng số tiền 4.786 triệu đồng; hỗ trợ 1.205,51 tấn gạo cho 30.256 hộ, 80.362 nhân khẩu; vận động hỗ trợ từ các tổ chức, cá nhân thăm và tặng quà Tết cho hộ nghèo, hộ bị thiệt hại sau cơn bão số 12 với tổng số tiền 6,85 tỷ đồng... Các chế độ, chính sách giảm nghèo, bảo trợ xã hội như cấp thẻ bảo hiểm y tế, miễn giảm học phí được thực hiện đầy đủ, đúng quy định nhằm góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người nghèo, đồng bào các dân tộc thiểu số.

b. Giáo dục

Ngành Giáo dục và Đào tạo tỉnh Khánh Hòa đã tổ chức sơ kết học kỳ I năm học 2017 - 2018, đánh giá kết quả đạt được cũng như hạn chế, tồn tại, đồng thời đề ra giải pháp cần thực hiện nhằm hoàn thành 9 nhóm nhiệm vụ chủ yếu và 5 giải pháp cơ bản trong năm học 2017 - 2018. Chất lượng giáo dục nhìn chung có sự ổn định, phát triển, tỷ lệ học sinh có học lực khá, giỏi tăng lên, tỷ lệ học sinh có học lực yếu, kém giảm. Đã tổ chức kỳ thi học sinh giỏi lớp 12 cấp Quốc gia năm học 2017 - 2018 với 64 thí sinh của 10 đội tuyển dự thi, kết quả có 20/64 thí sinh đạt giải (2 giải Nhì, 9 giải Ba và 9 giải Khuyến khích); tổ chức Hội thi Giáo viên tiểu học dạy giỏi cấp tỉnh năm học 2017 - 2018, kết quả 69/69 giáo viên đạt danh hiệu giáo viên chủ nhiệm tiểu học giỏi cấp tỉnh, trong đó có 07 giáo viên đạt xuất sắc; Hội thi giáo viên dạy giỏi cấp THPT có 182/244 giáo viên đạt danh hiệu giáo viên dạy giỏi, chiếm tỷ lệ 74,6%.

 c. Y tế

 Sở Y tế đã chỉ đạo các bệnh viện, trung tâm y tế tuyến huyện, phòng khám tư nhân, trung tâm y tế dự phòng đẩy mạnh công tác phòng chống dịch bệnh, giám sát tả, dịch cúm A/H1N1, cúm A/H5N1, cúm A/H7N9, sốt xuất huyết, sởi, rubella, bệnh Tay - Chân - Miệng… Ngành Y tế đã khám chữa bệnh trong quý I/2018 cho 855,85 nghìn lượt người; điều trị nội trú 49,2 nghìn lượt người; phẫu thuật 4.889 lượt người; ghi nhận 41 ca Tay - Chân - Miệng; 655 ca sốt xuất huyết; 127 ca viêm gan virút; 78 ca có biểu hiện rối loạn tiêu hóa sau khi ăn. Đã thực hiện tiêm đủ liều cho 3.941 trẻ dưới 1 tuổi; tiêm sởi mũi 2 cho 3.946 trẻ em dưới 18 tháng tuổi; tiêm UV2+ cho 3.551 phụ nữ có thai; tiêm UV2 và UV2+ cho 288 phụ nữ 15-35.

Trong tháng 3/2018, đã phát hiện thêm 3 trường hợp nhiễm HIV, nâng tổng số người nhiễm HIV đến nay là 2.125 người; có 1.156 người chết do AIDS.

d. Văn hóa, thể thao

Ngành Văn hóa và Thể thao đã triển khai tổ chức nhiều hoạt động văn hóa, nghệ thuật kỷ niệm Mừng Xuân Mậu Tuất 2018, kỷ niệm 50 năm cuộc Tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân 1968, kỷ niệm 88 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930-3/2/2018) và 88 năm Ngày thành lập Đảng bộ tỉnh Khánh Hoà, với 690 cờ đảng, cờ tổ quốc, 490 cờ màu, 140 phướn, 586 m2 pa nô, 06 buổi tuyên truyền… Trung tâm Điện ảnh tỉnh tổ chức 6 đội chiếu phim lưu động với 299 buổi chiếu phim phục vụ đồng bào các dân tộc miền núi, hải đảo, vùng sâu, vùng xa với 53.185 lượt người xem; Trung tâm Văn hóa tỉnh, Nhà hát Nghệ thuật truyền thống và Đoàn ca múa nhạc Hải Đăng đã biểu diễn nghệ thuật với 101 buổi phục vụ nhân dân và du khách; Bảo tàng tỉnh và Trung tâm Bảo tồn Di tích đã tổ chức các hoạt động “Mừng Đảng - Mừng Xuân Mậu Tuất 2018”, phục vụ tham quan và nhu cầu tín ngưỡng của 1,1 triệu lượt nhân dân và du khách; Thư viện tỉnh phục vụ 31.659 lượt độc giả, luân chuyển sách báo tại chỗ 110.605 lượt; thực hiện cấp phát gia hạn 294 thẻ.

Về thể thao thành tích cao, đã tham gia tập luyện và thi đấu các giải Marathon khám phá Băng Cốc (Thái Lan); giải Việt dã tại tỉnh Bình Dương; giải bóng đá U19 tại tỉnh Gia Lai; kết quả đạt 03 bộ huy chương (01 Bạc, 02 Đồng).

e. Tai nạn giao thông    

Từ ngày 16/02/2018 đến 15/3/2018, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 11 vụ tai nạn và va chạm giao thông đường bộ làm chết 12 người, bị thương 01 người. Tính chung quý I năm 2018 (từ ngày 16/12/2017 đến ngày 15/3/2018) trên địa bàn tỉnh xảy ra 35 vụ tai nạn và va chạm giao thông đường bộ làm chết 33 người, bị thương 06 người. Tai nạn giao thông đường sắt xảy ra 02 vụ, làm chết 02 người. So cùng kỳ năm trước, về số vụ tai nạn và va chạm giao thông đường bộ tăng 05 vụ, số người chết tăng 09 người, bị thương giảm 09 người; số vụ tai nạn đường sắt giảm 02 vụ, số người chết giảm 01 người, bị thương giảm 01 người.

Tóm lại: Kinh tế - xã hội tỉnh Khánh Hòa trong quý I/2018 tiếp tục ổn định và phát triển, nhiều chỉ tiêu kinh tế tăng khá so cùng kỳ năm trước: Tổng sản phẩm theo ngành kinh tế trên địa bàn tỉnh (GRDP) theo giá so sánh năm 2010 dự báo tăng 7,12%; chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 6,33%; tổng mức bán hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng tăng 12,69%; tổng thu ngân sách tăng 27,11%; vốn đầu tư phát triển toàn xã hội tăng 10,23%; doanh thu du lịch tăng 33,08%; khách du lịch quốc tế tăng 52,06%; chỉ số giá tiêu dùng tăng ở mức thấp 0,52% so tháng 12 năm trước... An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Sau tết Nguyên đán Mậu Tuất, toàn tỉnh có 1.851 thanh niên trúng tuyển nghĩa vụ quân sự, lên đường nhập ngũ, đạt 100% chỉ tiêu tuyển quân. Công tác đền ơn đáp nghĩa, hỗ trợ người nghèo và đồng bào dân tộc thiểu số được quan tâm đúng mức góp phần ổn định và nâng cao đời sống nhân dân. Cải cách hành chính, giải quyết khiếu nại, tố cáo, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí được đẩy mạnh. Bên cạnh những thành tích đạt được, các Sở, ban, ngành cần tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững; tập rung phát triển mạnh mẽ và toàn diện SXKD gắn với phát triển thị trường và hội nhập quốc tế; tiếp tục thực hiện 03 đột phá chiến lược, cơ cấu lại nền kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động và sức cạnh tranh của nền kinh tế; đảm bảo an sinh xã hội, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân, phát triển toàn diện các lĩnh vực văn hóa, xã hội; tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường, chủ động phòng chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu; tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế; đẩy mạnh công tác thông tin và truyền thông./.



Các bài mới nhất


THÔNG TIN MỚI

Quyết định số 3194/QĐ-UBND ngày 26/10/2017 của UBND tỉnh Khánh Hòa “Về việc ban hành biểu mẫu thu thập hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh”

Quyết định số 2881/QĐ-UBND của UBND tỉnh Khánh Hòa "Ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Đề án tăng cường quản lý nhà nước về chất lượng thống kê đến năm 2030 trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa"

Quyết định số 1692/QĐ-UBND ngày 14/6/2016 của UBND tỉnh Khánh Hòa "Về việc ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật Thống kê trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa"

UBND tỉnh Khánh Hòa tổ chức Hội nghị phổ biến Luật Thống kê

Nghị định số 94/2016/NĐ-CP của Chính phủ : Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thống kê

Nghị định số 95/2016/NĐ-CP của Chính phủ : Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thống kê

Nghị định số 97/2016/NĐ-CP của Chính phủ : Quy định nội dung chỉ tiêu thống kê thuộc hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia

Tình hình kinh tế xã hội tháng 6 năm 2016

Tờ gấp Khánh Hòa
Kinh tế xã hội năm 2015

Quy trình kiểm tra, giám sát thực hiện phương án điều tra thống kê và chế độ báo cáo thống kê

 LIÊN KẾT WEBSITE