Ray-Ban, il marchio mondiale dell'eyewear,hogan outlet ha annunciato che il suo classico Ray-Ban Wings è tornato fortemente. L'edizione limitata in oro placcato Ray-Ban di Ray-Ban Golden Wings è scioccante questa estate con il suo atteggiamento e il suo stile ostentato. #RUN FOR WINGS Non ti fa paura in ogni momento del millennio Pubblica una galleria di commenti Ray-Ban, il marchio mondiale dell'eyewear,ray ban outlet italia ha annunciato che il suo classico Ray-Ban Wings è tornato fortemente. L'edizione limitata in oro placcato Ray-Ban di Ray-Ban Golden Wings è scioccante questa estate con il suo atteggiamento e il suo stile ostentato. #RUN FOR WINGS Darti il ​​coraggio di essere senza paura in ogni momento del millennio. Fin dalla sua nascita, Ray-Ban non ha mai smesso di innovare. La nuova serie ha sempre mantenuto il suo stile unico. Ray-Ban Golden Wings brilla come un'ala d'oro con lenti esclusive placcate oro 24K. Coperto da un logo incisione originale, l'esclusivo design Seiko illumina l'estate dei giovani. Il design del telaio dimostra lo spirito senza paura delle fashioniste. Il bordo superiore del ponte e le aste sono in metallo sottile. Il nasello ultraleggero è abilmente sollevato per sostenere l'obiettivo placcato in oro, creando uno stile libero leggero ed energico che rende questa estate sfrenata. Dal 26 giugno,ray ban outlet italia l'edizione limitata in oro placcato Ray-Ban Golden Wings sarà presentata ufficialmente nel flagship store Tmall Ray-Ban. L'edizione limitata è equipaggiata con astuccio per occhiali esclusivo e autentica carta d'identità, che è straordinaria. Ray-Ban è un marchio cool e iconico che porta stili classici e senza tempo,ray ban outlet italia che simboleggia il vero sé e la libera espressione. Il lancio di Ray-Ban Andrea e Ray-Ban Marshal II è l'ultimo portatore dello spirito Ray-Ban. Le combinazioni di colori senza precedenti di Ray-Ban Andrea e Ray-Ban Marshal II e le forme accattivanti e frizzanti ispirano le generazioni più giovani di consumatori a essere "il mio originale". Con la determinazione della sfida faccia a faccia e la determinazione dal cuore,ray ban outlet italia spedirò a gran voce la mia "vera dichiarazione",ray ban outlet italia e insieme a Zhang Yixing, "essere giovane, prendendo il modo più ricercato,ray ban outlet italia facendo il più meraviglioso se stesso." Ray-Ban Andrea RB3595 ha una silhouette classica in metallo quadrato retrò con aste rifinite in acciaio e lenti colorate lavate. Ci sono tre combinazioni di colori uniche, una lente verde scuro con una cornice fumosa e una tempia nera; una lente wash viola chiaro con una cornice nera e un tempio viola chiaro; e una lente lavata azzurra con montatura in oro e aste bianche. Ray-Ban Marshal II RB3648M è stato ispirato da Ray-Ban Marshal,ray ban outlet italia uno dei migliori modelli Ray-Ban al mondo nel 2017. Ray-Ban Marshal II incorpora gli angoli della firma esagonale Ray-Ban esagonale Ray-Ban e le classiche traverse superiori e le aste di Ray-Ban General nella classica struttura elegante e presenta un'elevata qualità nel design del telaio. I contorni danno alle avanguardie un senso di modernità. I colori disponibili sono: lenti polarizzate verdi con montatura in metallo color oro e aste nere; lenti sfumate viola con montatura in metallo color oro e aste bianche; lenti sfumate blu con montatura in metallo nero e aste blu. La nuova serie di Ray-Ban X Zhang Yixing sta arrivando,ray ban outlet italia vi invitano a rilasciare il vero sé quest'estate! , registrati come membro di Ray-Ban, sblocca più eccitante! E Zhang Yixing insieme "tipo" onda del vento!

chỉ số giá tiêu dùng toàn quốc

TÌNH HÌNH KINH TẾ XÃ HỘI THÁNG 01/2018
Tình hình kinh tế xã hội | Tình hình kinh tế xã hội

Tốc độ phát triển một số chỉ tiêu Kinh tế chủ yếu tỉnh Khánh Hòa

tháng 01/2018 so với tháng trước và 01 tháng năm 2018 so với cùng kỳ năm trước

 (%)

Một số chỉ tiêu kinh tế chủ yếu

Tháng 01/2018

so với tháng trước

01 tháng năm 2018 so với cùng kỳ năm trước

Chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp

94,60

107,43

Vốn đầu tư ngân sách nhà nước thực hiện

28,64

104,17

Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

104,07

113,36

Tổng kim ngạch xuất khẩu

102,93

60,44

Tổng kim ngạch nhập khẩu

89,95

159,64

Doanh thu du lịch

101,34

125,60

Khách quốc tế đến Khánh Hòa

105,21

122,76

Chỉ số giá tiêu dùng

100,08

102,03

Chỉ số giá vàng

100,19

103,44

Chỉ số giá đô la Mỹ

99,82

98,85

  

Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ sốgiá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ

Tháng 01 năm 2018

 

Chỉ số giá tháng 01/2018 so với (%)

Bình 
năm 2018 so
cùng
kỳ

Kỳ gốc 2009

Cùng tháng năm trước

Tháng 12 năm trước

Tháng trước

Chỉ số giá tiêu dùng

 

102,03

100,08

100,08

 

I. Hàng ăn và dịch vụ ăn uống

 

98,56

99,84

99,84

 

   Trong đó:  1- Lương thực

 

102,81

99,87

99,87

 

                    2- Thực phẩm

 

98,26

99,74

99,74

 

                    3- Ăn uống ngoài gia đình

 

97,50

100,00

100,00

 

II. Đồ uống và thuốc lá

 

101,00

100,00

100,00

 

III. May mặc, mũ nón, giầy dép

 

100,93

100,10

100,10

 

IV. Nhà ở, điện, nuớc, chất đốt,VLXD

 

102,02

100,29

100,29

 

V. Thiết bị và đồ dùng gia đình

 

99,83

99,99

99,99

 

VI. Thuốc và dịch vụ y tế

 

155,72

100,00

100,00

 

VII. Giao thông

 

104,99

101,40

101,40

 

VIII. Bưu chính viễn thông

 

100,00

100,00

100,00

 

IX. Giáo dục

 

101,37

100,00

100,00

 

X. Văn hoá, giải trí và du lịch

 

100,68

99,75

99,75

 

XI. Hàng hoá và dịch vụ khác

 

103,49

100,25

100,25

 

Chỉ số giá vàng

 

103,44

100,19

100,19

 

Chỉ số giá đô la Mỹ

 

98,85

99,82

99,82

 

 

Giá Bán Lẻ Hàng Hóa tháng 01 năm 2018

DANH MỤC HÀNG HÓA

ĐVT

THÁNG 01/2018

THÁNG 01/2017

THÁNG 12/2017

Gạo tẻ thường ( ML 202)

đ/kg

10.398

9.898

10.398

Gạo tẻ ngon ( Gò Công)

đ/kg

16.893

16.092

16.893

Gạo nếp thường

đ/kg

16.684

16.684

16.684

Sắn tươi

đ/kg

7.607

7.607

7.607

Thịt lợn mông sắn

đ/kg

82.906

90.978

82.906

Thịt bò bắp

đ/kg

207.668

212.741

207.668

Gà mái ta còn sống  1.5 kg/con

đ/kg

98.825

94.836

94.836

Trứng vịt loại vừa

Đồng /10 quả

29.127

30.787

31.180

Dầu ăn Tường An 1 lít

đ/lít

42.793

41.793

41.793

Đậu xanh hạt loại 1

đ/kg

34.231

34.231

34.231

Đậu nành

đ/kg

17.559

17.559

17.559

Đậu phụng loại 1

đ/kg

45.925

43.729

45.925

Cá thu khúc giữa

đ/kg

258.519

246.485

258.519

Muối hạt

đ/kg

3.291

2.789

2.789

Nước mắm cá cơm 15 độ đạm

đ/lít

23.389

23.389

23.389

Bột ngọt Ạinomoto gói 454 g

đ/kg

62.093

62.093

62.093

Sữa đặt có đường hiệu Ông Thọ

đ/hộp

21.000

21.000

21.000

Nước khoáng VIKODA 500ml

đ/lít

7.975

7.975

7.975

Bia hơi Win – San Migue

đ/lít

7.391

7.391

7.391

Thuốc lá White Hore Khánh Hòa

đ/bao

21.000

21.000

21.000

Đường trắng kết tinh Khánh Hòa

đ/kg

17.674

18.175

17.674

Giấy kẻ ngang 20 tờ/tập

đ/tập

5.378

5.378

5.378

Vitamin B1 – 100mg. lọ 100 viên

đ/100viên

6.188

6.188

6.188

Xi măng đen PC40 Hoàng Thạch

đ/kg

1.736

1.736

1.736

Gạch xây ( gạch ống Tuynen)

đ/viên

952

907

952

Dầu hỏa

đ/lít

14.502

12.369

13.880

Xăng A92

đ/lít

18.770

-

-

Điện sinh hoạt

đ/kwh

1.943

1.899

1.907

Gas đun ( bình 12kg-Shellgas)

đ/kg

30.292

26.629

30.292

Nước máy

đ/m3

5.612

5.329

5.623

Vàng 99.99%

Nghìn đ/chỉ

3.665

3.543

3.658

Đô la Mỹ

đ/USD

22.734

22.997

22.775

 

BÁO CÁO

Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Khánh Hòa

tháng 01 năm 2018

                                                   

1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

a) Nông nghiệp:

Các địa phương trong tỉnh tập trung gieo trồng và chăm sóc cây hàng năm vụ đông xuân 2017 - 2018 và thu hoạch cây trồng vụ mùa năm 2017. Lúa vụ mùa năm 2017 đã thu hoạch xong, với diện tích gieo trồng 9.011 ha, năng suất bình quân được 32,65 tạ/ha, sản lượng thu hoạch 29.420,45 tấn. Thu hoạch mía để sản xuất đường được 2.728 ha: Thị xã Ninh Hòa 2.658 ha và huyện Diên Khánh 70 ha, năng suất ước được 430,28 tạ/ha.

Do ảnh hưởng cơn bão số 12 cộng với thời tiết lạnh đã ảnh hưởng đến tiến độ gieo trồng của hầu hết các loại cây trồng. Tính đến 15/01/2018, tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm vụ đông xuân 2017 – 2018 được 25.356,3 ha, bằng 30,14% KH và giảm 0,22% so cùng kỳ năm trước: Cây thực phẩm giảm 8,91%; cây công nghiệp hàng năm giảm 5,5%; cây chất bột có củ giảm 3,41%; riêng cây lương thực tăng 2,38%, trong đó lúa tăng 2,7% do nguồn nước sản xuất ổn định nên người dân đẩy nhanh tiến độ gieo trồng để kịp thời vụ.

Công tác phòng chống dịch bệnh ở đàn gia súc, gia cầm được các cơ quan chức năng kiểm tra, giám sát chặt chẽ; tăng cường công tác vệ sinh tiêu độc môi trường, chuồng trại; kiểm soát giết mổ các cơ sở kinh doanh đề phòng dịch bệnh xảy ra trước, trong và sau Tết. Ước tính đến 31/01/2018, tổng đàn trâu có 4.352 con; đàn bò 82.985 con; đàn lợn 166.467 con; đàn gia cầm 2.690,3 nghìn con. So cùng kỳ năm trước, tổng đàn trâu giảm 0,8%; đàn lợn giảm 6,42%; đàn gia cầm giảm 4,08%; riêng đàn bò tăng 0,22%. Các hộ chăn nuôi đang tích cực chăm sóc, vỗ béo đàn gia súc, gia cầm nhằm phục vụ nhu cầu tiêu dùng của người dân trong dịp tết Nguyên đán.

b) Lâm nghiệp:

Sản xuất lâm nghiệp trong tháng tập trung chủ yếu vào chăm sóc, khoanh nuôi tái sinh, bảo vệ rừng và chuẩn bị cho kế hoạch trồng rừng năm 2018. Sản lượng khai thác gỗ từ rừng trồng tháng 01/2018 được 2.403 m3, tăng 11,51% so cùng kỳ năm trước. Từ ngày 01/01/2018 đến ngày 15/01/2018 lực lượng kiểm lâm đã phát hiện 30 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và phát triển rừng, xử lý 12 vụ, tịch thu 27,82 m3 gỗ các loại, thu nộp ngân sách 527,5 triệu đồng tiền phạt và tiền bán lâm sản tịch thu.

c) Thủy sản:

Tổng sản lượng thủy sản tháng 01/2018 ước được 5.071,1 tấn, giảm 0,92% so cùng kỳ năm trước: Sản lượng thủy sản khai thác được 4.960 tấn, tăng 0,68%, trong đó cá ngừ đại dương được 180 tấn, giảm 16,9% do một số tàu khai thác không hiệu quả; sản lượng thủy sản nuôi trồng được 111,1 tấn, giảm 42% do ảnh hưởng cơn bão số 12 (cá giảm 36,8%; tôm giảm 33,5%; thủy sản khác giảm 75,9%).

Thời tiết không thuận lợi cộng với diện tích nuôi trồng thủy sản chưa vào vụ chính thả nuôi nên diện tích thả nuôi tháng 01/2018 được 36,9 ha, giảm 23,44% so cùng kỳ năm trước.

2. Sản xuất công nghiệp

Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 01/2018 tăng 7,43% so cùng kỳ năm trước: Công nghiệp khai khoáng giảm 8,14%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước giảm 23,93%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 10,48%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 14,69%.

So cùng kỳ năm trước, một số ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có chỉ số sản xuất tháng 01/2018 tăng cao hơn mức tăng chung: Chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa tăng 77,57%; sản xuất đồ uống tăng 43,19%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 33,78%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 30,49%; dệt tăng 26,42%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 25,12%; sản xuất sản phẩm thuốc lá tăng 16,62%. Các sản phẩm có chỉ số sản xuất tăng thấp hoặc giảm như: Sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu tăng 1,12%; sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 1,08%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 1,02%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác giảm 0,54%; sản xuất trang phục giảm 24,95%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế giảm 45,12%.

Một số sản phẩm có chỉ số sản xuất tháng 01/2018 tăng so cùng kỳ năm trước: Bia đóng chai tăng gấp 2,79 lần; nước yến và nước bổ dưỡng khác tăng 45,28%; bia đóng lon tăng 33,13%; sợi tự nhiên tăng 26,42%; nước uống được tăng 20,4%; thuốc lá có đầu lọc tăng 16,62%; điện thương phẩm tăng 9,25%; tôm đông lạnh tăng 9,02%. Một số sản phẩm có chỉ số giảm như: Bê tông tươi giảm 0,03%; cá khác đông lạnh giảm 4,82%; đá xây dựng khác giảm 7,95%; cá ngừ đông lạnh giảm 26,61%; áo phông (T-shirt) giảm 19,95%; bàn bằng gỗ các loại giảm 59,41%; điện sản xuất giảm 63,54%.

Chỉ số tiêu thụ của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước tháng 01/2018 giảm 9,84% so tháng trước và tăng 13,78% so cùng kỳ năm trước. Các ngành có chỉ số tiêu thụ tháng 01/2018 tăng so cùng kỳ năm trước: Dệt tăng gấp 8,51 lần; sản xuất đồ uống tăng 72,49%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 33,78%; sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu tăng 31,58%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 30,88%; sản xuất sản phẩm thuốc lá tăng 17,65%; công nghiệp chế biến, chế tạo khác tăng 14,04%. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ giảm: Sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác giảm 0,64%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn giảm 7,21%; sản xuất chế biến thực phẩm giảm 7,79%; sản xuất trang phục giảm 16,43%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy giảm 19,54%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế giảm 44%; in, sao chép bản ghi các loại giảm 39,99% .

3. Đầu tư xây dựng 

Các đơn vị xây dựng đang đẩy nhanh tiến độ thi công các công trình chuyển tiếp năm 2017 và chuẩn bị các thủ tục lập hồ sơ báo cáo kỹ thuật, hồ sơ dự toán đối với các dự án trong kế hoạch năm 2018. Ước thực hiện vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn nhà nước do địa phương quản lý trên địa bàn tỉnh tháng 01/2018 được 112 tỷ đồng, tăng 4,17% so cùng kỳ năm trước: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh 76 tỷ đồng, tăng 9,86%; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện 30 tỷ đồng, giảm 12,12% và vốn ngân sách nhà nước cấp xã 6 tỷ đồng, tăng 42,86%. Trong tháng, có 03 công trình khởi công mới và 08 công trình hoàn thành bàn giao đưa vào sử dụng với tổng vốn đầu tư trên 37 tỷ đồng.

Một số công trình xây dựng tập trung đẩy nhanh tiến độ thi công nhằm hoàn thành kế hoạch năm 2017 với vốn thực hiện khá như: Trụ sở làm việc BQL Vịnh, trụ sở Ban dịch vụ công ích, UBND phường Vĩnh Hòa, đường Pasteur, trường MN Vạn Thạnh, trường MN Sơn Ca, trường TH Vạn Thắng, trường TH Đất Lành, trường THCS Vĩnh Thái, trường THCS Bùi Thị Xuân, trường THCS Phan Sào Nam, trường THCS Lê Thanh Liêm, đường Nguyễn Thiện Thuật nối dài, CSHT khu TĐC Hòn Rớ II (Nha Trang); trường TH Cam Phúc Nam, đường Nguyễn Bính, kè bảo vệ sông Trà Long (Cam Ranh); trường MG Anh Đào, hội trường UBND xã Cam Hải Đông, nhà thi đấu đa năng xã Cam Phước Tây (Cam Lâm); đường Nguyễn Trãi, trường MN Vạn Phước, trường MN Xuân Sơn, trung tâm văn hóa xã Vạn Bình, đường Lạc Long Quân, đường Lý Thường Kiệt, kênh Lòng Chảo, kênh Cây Duối, kè bờ biển Vạn Giã (Vạn Ninh); khu TĐC Khánh Vĩnh (Khánh Vĩnh); khu dân cư Phú Ân Nam 2, kè và đường số 1 dọc Sông Cái, kè chống sạt lở bờ Bắc thị trấn (Diên Khánh); trụ sở UBND xã Thành Sơn, trường mầm non Vành Khuyên, đường Lê Duẩn, đường Trần Bình Trọng, đường vào khu di tích thác Tà Gụ, đài tưởng niệm huyện, kè bờ suối Tà Lương, đập dâng Suối Mã, khu TĐC thôn Dốc Trầu (Khánh Sơn)…

4. Thương mại, du lịch, giá cả

a) Tổng mức bán hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng:

Tháng 01/2018 là tháng giáp tết Nguyên đán nên các hoạt động thương mại dịch vụ của các thành phần kinh tế tăng khá. Lượng hàng hoá phục vụ nhu cầu Tết dồi dào, mẫu mã đa dạng, chất lượng thích hợp, giá cả ổn định. Bên cạnh đó, các Sở, ngành, các địa phương đã tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ sở trong tỉnh đẩy mạnh sản xuất kinh doanh, mở rộng hệ thống phân phối đến tuyến huyện, tổ chức bán hàng lưu động đến những xã chưa có mạng lưới cửa hàng của trung tâm; tổ chức nhiều chương trình khuyến mãi, giảm giá, tăng thêm các điểm bán hàng, quầy hàng nhằm phục vụ nhu cầu mua sắm của nhân dân trong dịp Tết Nguyên đán Mậu Tuất. Các doanh nghiệp cam kết tham gia chương trình bình ổn giá trong dịp Tết đã tự chủ động nguồn vốn, chuẩn bị đầy đủ nguồn hàng đáp ứng nhu cầu tiêu dùng. UBND tỉnh đã ban hành công văn số 228/UBND-KT ngày 08/12/2018 về việc tạm ứng vốn ngân sách tỉnh 2,9 tỷ đồng cho hai đơn vị miền núi trên địa bàn tỉnh vay không thu phí để dự trữ hàng hóa thiết yếu nhằm bình ổn giá trên thị trường: Trung tâm Dịch vụ - Thương mại Khánh Sơn 1,5 tỷ đồng và Trung tâm Dịch vụ - Thương mại Khánh Vĩnh 1,4 tỷ đồng. Tổng mức bán hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng tháng 01/2018 được 12.746,25 tỷ đồng, tăng 13,16% so cùng kỳ năm trước: Kinh tế nhà nước được 1.840,7 tỷ đồng, tăng 12,82%, trong đó các DN thương mại dịch vụ nhà nước được 1.816,46 tỷ đồng, tăng 15,85% với các mặt hàng chủ yếu bán ra 52,5 triệu bao thuốc lá tăng 6,14% và 30 nghìn tấn xăng dầu tăng 3,9%; kinh tế tập thể 6,82 tỷ đồng, tăng 8,31%; kinh tế tư nhân, cá thể và hỗn hợp 10.788,53 tỷ đồng, tăng 13,09% và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 110,2 tỷ đồng, tăng 27,75%.

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 01/2018 được 7.188,58 tỷ đồng, tăng 13,35% so cùng kỳ năm trước: Ngành thương mại được 4.913,06 tỷ đồng, tăng 12,35% (trong đó ngành lương thực, thực phẩm tăng 10,39%; hàng may mặc tăng 15,28%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 13,83%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 15,62%; hàng hóa khác tăng 11,57%); ngành dịch vụ lưu trú và ăn uống được 1.237,52 tỷ đồng, tăng 17,26%; ngành dịch vụ 830,74 tỷ đồng, tăng 14,03% (trong đó, ngành kinh doanh bất động sản tăng 13,85%; giáo dục và đào tạo tăng 16,23%; dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội tăng 18,64%; nghệ thuật, vui chơi và giải trí tăng 16,95%); ngành dịch vụ lữ hành 207,26 tỷ đồng, tăng 12,35%.

Chi cục Quản lý thị trường phối hợp với các ngành chức năng tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường trước tết Nguyên đán về tình hình chống buôn lậu, hàng giả, hàng kém chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm; tích cực kiểm soát chặt việc chấp hành pháp luật về giá, niêm yết giá và bán hàng theo giá niêm yết, ngăn chặn hành vi đầu cơ tích trữ và tự ý tăng giá bất hợp lý. Đồng thời, tiếp tục thực hiện tốt công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật, vận động các cơ sở sản xuất kinh doanh ký cam kết và ổn định tâm lý người tiêu dùng trong dịp Tết. Tháng 01/2018, Chi cục Quản lý thị trường đã kiểm tra được 180 cơ sở sản xuất kinh doanh, phát hiện 112 vụ vi phạm, xử lý hành chính 111 cơ sở vi phạm; thu nộp ngân sách 487,22 triệu đồng, đồng thời thu giữ hàng hóa vi phạm để xử lý.

b) Du lịch:

Để phục vụ tốt nhu cầu vui xuân của nhân dân và khách du lịch trong dịp tết Nguyên đán Mậu Tuất, ngay từ cuối tháng 12/2017 ngành du lịch phối hợp với các ngành chức năng, các DN và chính quyền địa phương đã có kế hoạch tu bổ, sửa chữa, vệ sinh đường phố, tăng cường ánh sáng công cộng, trang trí đèn hoa dọc các phố chính. Các đơn vị kinh doanh dịch vụ du lịch đã có kế hoạch chuẩn bị phục vụ khách như: Tân trang khách sạn, cải tiến điều kiện phục vụ, trang bị phương tiện vận chuyển khách du lịch, nâng cấp, hoàn thiện các loại hình vui chơi giải trí, bình ổn giá dịch vụ theo chỉ đạo của UBND tỉnh. Các khu vui chơi, giải trí như Vinpearl land, Long Phú, Yang Bay, các khu du lịch tắm bùn khoáng nóng Tháp Bà, I-Resort, Trăm Trứng luôn là điểm thu hút khách du lịch trong các ngày lễ, Tết. Ước doanh thu du lịch toàn tỉnh tháng 01/2018 được 1.362,99 tỷ đồng, tăng 25,6% so cùng kỳ năm trước; khách lưu trú được 410 nghìn lượt người với 1.125 nghìn ngày khách, tăng lần lượt là 10,76% và 17,45%, trong đó 200 nghìn lượt khách quốc tế với 705 nghìn ngày khách quốc tế, tăng lần lượt là 22,76% và 29,31%; đã thu hút 1.630 nghìn lượt khách tham quan (không tính khách tham quan bằng tàu biển), tăng 10,09%.

c) Xuất, nhập khẩu hàng hóa:

Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa trên toàn tỉnh tháng 01/2018 ước được 79,61 triệu USD, giảm 39,56% so cùng kỳ năm trước: Kinh tế nhà nước 4,92 triệu USD, tăng 74,06%; kinh tế tập thể 200 nghìn USD, tăng 53,49%; kinh tế tư nhân 48,2 triệu USD, tăng 4,3% và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 26,29 triệu USD, giảm 68,15% (do tháng 01/2018 công ty TNHH Nhà máy tàu biển Hyundai Vinashin không xuất khẩu tàu biển, tháng 01/2017 xuất 2 chiếc tàu biển). Một số mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu tăng so cùng kỳ năm trước: 50 nghìn USD hàng rau quả, tăng gấp 4,27 lần; 540 nghìn USD hạt điều, tăng gấp 2,61 lần; 60 nghìn USD nguyên phụ liệu dệt may, da, giày tăng 82,37%; 2,5 triệu USD máy móc thiết bị và dụng cụ phụ tùng, tăng 71,82%; 46,5 triệu USD hải sản các loại, tăng 62,41%; 5,2 triệu USD hàng hóa khác, tăng 58,95%; 450 nghìn USD sản phẩm mây, tre, cói, thảm, tăng 17,28%; các mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu giảm: 50 nghìn USD sản phẩm kim loại thường khác, giảm 3,29%; 50 nghìn USD sản phẩm từ sắt thép, giảm 34,55%; 250 nghìn USD sắn và sản phẩm từ sắn, giảm 36,92%; 10,5 triệu USD cà phê, giảm 44,11%; 90 nghìn USD cao su, giảm 55,45%.

Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 01/2018 ước được 70,1 triệu USD, tăng 59,64% so cùng kỳ năm trước: Thành phần kinh tế nhà nước 6 triệu USD, giảm 13,86%; kinh tế tư nhân được 28,5 triệu USD, tăng gấp 2,1 lần; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 35,6 triệu USD, tăng 53,51%. Một số mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu tăng so cùng kỳ năm trước: 4,5 triệu USD thức ăn gia súc và nguyên liệu, tăng gấp 7,33 lần; 1,35 triệu USD kim loại thường khác và sản phẩm, tăng gấp 3,07 lần; 2,5 triệu USD vải các loại, tăng gấp 3,39 lần; 380 nghìn USD chất dẻo nguyên liệu, tăng gấp 2,63 lần; 18,5 triệu USD máy móc thiết bị dụng cụ phụ tùng, tăng gấp 2,18 lần; 25,5 triệu USD hàng thủy sản, tăng 82,45%; 8,2 triệu USD hàng hóa khác, tăng 62,94%; 710 nghìn USD nguyên phụ liệu dệt, may, da, giày, tăng 42,26%; 400 nghìn nguyên phụ liệu dược phẩm, tăng 40,6%; 7,16 triệu USD sắt thép và sản phẩm từ sắt thép, tăng 23,65%. Một số mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu giảm: 6 triệu USD nguyên phụ liệu thuốc lá, giảm 4,47%; 100 nghìn USD lúa mỳ, giảm 22,42%; 105 nghìn USD hóa chất và sản phẩm, giảm 29,48%; 100 nghìn USD gỗ và sản phẩm từ gỗ, giảm 86,85%.

d) Chỉ số giá tiêu dùng (CPI), chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ:

Vào ngày 04/01/2018 và ngày 19/01/2018 Bộ Tài chính đã hai lần điều chỉnh tăng giá xăng dầu với mức tăng chung của giá xăng là 1.120 đ/lít, giá dầu diezel là 800 đ/lít, giá dầu hỏa là 970 đ/lít đã tác động đến chỉ số giá giao thông. Chỉ số giá giao thông tháng 01/2018 tăng 1,4% so tháng trước nên chỉ số giá tiêu dùng tháng 01/2018 tăng 0,08%.

Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, có 4 nhóm có chỉ số giá tăng và 3 nhóm có chỉ số giá giảm. Các nhóm hàng có chỉ số giá tăng so tháng trước như: May mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,1%; nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,29%; giao thông tăng 1,4%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,25%; các nhóm hàng có chỉ số giá giảm là: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,16%; thiết bị và đồ dùng gia đình giảm 0,01%; văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,25%; các nhóm đồ uống và thuốc lá; thuốc và dịch vụ y tế; bưu chính viễn thông; giáo dục có chỉ số giá ổn định.

Giá bán lẻ bình quân chung một số mặt hàng tháng 01/2018: Gạo tẻ ngon (Gò Công) 16.893 đồng/kg; gạo nếp thường 16.684 đồng/kg; gà mái ta còn sống 98.825 đồng/kg; thịt lợn mông sấn 82.906 đồng/kg; thịt bò bắp 207.668 đồng/kg; trứng vịt 29.127 đồng/10 quả; cá thu khúc giữa 258.519 đồng/kg; dầu ăn Tường An 42.793 đồng/lít; đường trắng kết tinh Khánh Hòa sản xuất 17.674 đồng/kg; sữa Ông Thọ 380g 21.000 đồng/hộp; bột ngọt AJINOMOTO 62.093 đồng/gói; gas đun (bình 12 kg-Shellgas) 363.504 đồng/bình; vàng 99,99% 3.665 nghìn đồng/chỉ; đô la Mỹ 22.734 đồng/USD.

Chỉ số giá vàng tháng 01/2018 tăng 0,19% so tháng trước và tăng 3,44% so tháng 1/2017. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 01/2018 giảm 0,18% so tháng trước và giảm 1,15% so tháng 1/2017.

5. Vận tải, bưu chính viễn thông

a) Vận tải:

Sở Giao thông - Vận tải phối hợp với UBND các huyện, thị xã, thành phố chỉ đạo các cơ quan chức năng, các doanh nghiệp vận tải có biện pháp điều động, tăng cường phương tiện, giám sát chặt chẽ giá vé nhằm đáp ứng tốt nhu cầu đi lại và vận chuyển hàng hóa của nhân dân trong dịp Tết Dương lịch và tết Nguyên đán Mậu Tuất 2018. Đồng thời thường xuyên kiểm tra, đôn đốc các đơn vị, doanh nghiệp hoàn thành sớm việc duy tu, sửa chữa, nâng cấp các công trình giao thông; siết chặt công tác quản lý, bố trí lực lượng bảo đảm an toàn giao thông, hạn chế thấp nhất tai nạn, ùn tắc giao thông trong dịp tết Nguyên đán.

Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng 01/2018 ước được 617,86 tỷ đồng, tăng 16,14% so cùng kỳ năm trước: Vận tải hành khách được 191,97 tỷ đồng, tăng 14,3%; vận tải hàng hóa được 291,7 tỷ đồng, tăng 16,89%; kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải được 134,19 tỷ đồng, tăng 17,22%.

Trong tổng doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng 01/2018, vận tải đường bộ được 405,13 tỷ đồng, tăng 17,47% so cùng kỳ năm trước; vận tải đường thủy 20,44 tỷ đồng, tăng 17,62%; vận tải đường sắt 25,87 tỷ đồng, tăng 2,69%; đường hàng không (chỉ tính Vietnam Airlines) 32,23 tỷ đồng, tăng 7,21%.

Vận chuyển hành khách đường bộ và đường thủy tháng 01/2018 ước được 4.614,8 nghìn lượt người, tăng 17,78% so cùng kỳ năm trước (đường bộ được 4.406 nghìn lượt người và đường biển được 208,8 nghìn lượt người, tăng lần lượt là 17,81% và 17,3%); luân chuyển hành khách 242.538,4 nghìn lượt người.km, tăng 17,78% (đường bộ 240.540 nghìn lượt người.km và đường biển 1.998,4 nghìn lượt người.km, tăng lần lượt là 17,79% và 16,66%). Vận chuyển hành khách đường hàng không của Vietnam Airlines đón được 94.744 lượt người lên xuống sân bay với 328 lần hạ cất cánh; tăng lần lượt là 7,57% và 1,23% so cùng kỳ năm trước.

Vận chuyển hàng hóa đường bộ và đường thủy tháng 01/2018 ước được 3.452,5 nghìn tấn, tăng 17,16% so cùng kỳ năm trước (đường bộ được 3.419,7 nghìn tấn và đường biển được 32,8 nghìn tấn, tăng lần lượt là 17,16% và 17,14%); luân chuyển hàng hóa 329.273 nghìn tấn.km, tăng 16,99% (đường bộ 269.445 nghìn tấn.km và đường biển 59.828 nghìn tấn.km, tăng lần lượt là 17,02% và 16,83%).

Vận chuyển hành khách đường sắt tháng 01/2018 ước được 74.182 lượt người, tăng 1,97% so cùng kỳ năm trước; luân chuyển hành khách 30.712,4 nghìn lượt người.km, tăng 10,15%; vận chuyển hàng hóa 1.427 tấn; luân chuyển hàng hóa 1.625,5 nghìn tấn.km, tăng lần lượt là 2,88% và 9,43%.

Từ ngày 16/12/2017 đến 15/01/2018, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 13 vụ tai nạn và va chạm giao thông đường bộ làm chết 10 người; bị thương 5 người. So cùng kỳ năm trước, về số vụ tai nạn và va chạm giao thông đường bộ tăng 7 vụ; số người chết tăng 5 người; bị thương giảm 2 người. Tai nạn giao thông đường sắt xảy ra 2 vụ; làm chết 2 người.

b) Bưu chính viễn thông:

Tháng 01/2018, số thuê bao điện thoại phát triển mới được 1.445 thuê bao, nâng tổng số thuê bao điện thoại trên toàn tỉnh đến nay là 174.137 thuê bao (74.295 thuê bao cố định và 99.842 thuê bao di động trả sau); tổng doanh thu bưu chính viễn thông ước được 150,08 tỷ đồng, tăng 9,68% so cùng kỳ năm trước; 5,7 nghìn bưu kiện đi có cước, tăng 7,55%; 10,39 nghìn bức thư và điện chuyển tiền, tăng 1,9%; phát hành báo chí được 1.754 nghìn tờ, cuốn, tăng 1,74%.

6. Tài chính, ngân hàng

a) Tài chính:

Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh tháng 01/2018 ước được 1.590,6 tỷ đồng, bằng 12,01% dự toán và giảm 17,62% so cùng kỳ năm trước: Thu từ SXKD trong nước 1.090,6 tỷ đồng, bằng 8,56% và giảm 13,91%; thu từ hoạt động xuất nhập khẩu 500 tỷ đồng, bằng 99,01% và giảm 24,72%. Trong tổng thu từ SXKD trong nước có các khoản thu tăng so cùng kỳ năm trước như: Thu tiền sử dụng đất 85 tỷ đồng, tăng 66,38%; thu xổ số kiến thiết 24 tỷ đồng, tăng 36,55%; thu thuế bảo vệ môi trường 56 tỷ đồng, tăng 15,72%; thu lệ phí trước bạ 35 tỷ đồng, tăng 13,83%; thu từ khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 35 tỷ đồng, tăng 8,68%; thu từ doanh nghiệp nhà nước trung ương 55 tỷ đồng, tăng 5,26%; thu từ khu vực công thương nghiệp ngoài quốc doanh 400 tỷ đồng, tăng 2,44%; thu thuế thu nhập cá nhân 95 tỷ đồng, tăng 0,91%; thu thuế sử dụng đất phi nông nghiệp 1 tỷ đồng, tăng 0,4%. Các khoản thu giảm như: Thu phí và lệ phí 37,1 tỷ đồng, giảm 6,96%; thu khác ngân sách và thu ngân sách xã 16 tỷ đồng, giảm 7,72%; thu từ doanh nghiệp nhà nước địa phương 245 tỷ đồng, giảm 16%; thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản 500 triệu đồng, giảm 86,95%; thu tiền cho thuê mặt đất, mặt nước 6 tỷ đồng, giảm 90,72%.

Tổng chi ngân sách nhà nước địa phương tháng 01/2018 ước được 771,37 tỷ đồng, bằng 7,72% dự toán, trong đó chi đầu tư phát triển được 155 tỷ đồng, bằng 4,26% (riêng chi đầu tư xây dựng cơ bản 90 tỷ đồng, bằng 10,4%); chi thường xuyên 614,2 tỷ đồng, bằng 10,12% với các khoản chi như: Chi sự nghiệp kinh tế 55 tỷ đồng, bằng 6,34%; chi sự nghiệp văn xã 385,7 tỷ đồng, bằng 10,76%; chi quản lý hành chính 128 tỷ đồng, bằng 11,02%; chi quốc phòng an ninh 30 tỷ đồng, bằng 15,69%; chi khác ngân sách 15,5 tỷ đồng, bằng 5,89%. So cùng kỳ năm trước, tổng chi ngân sách nhà nước địa phương giảm 2,61%, trong đó chi đầu tư phát triển tăng 10,10%, chi thường xuyên giảm 5,69%.

b) Ngân hàng:

Lãi suất huy động VND kỳ hạn dưới 1 tháng phổ biến ở mức 0,3%-1%/năm; lãi suất kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng là 4,3%-5,5%/năm; lãi suất kỳ hạn từ 6 tháng đến dưới 12 tháng là 5,3%-6,5%/năm và đối với kỳ hạn từ 12 tháng trở lên là 6,5%-7,5%/năm. Lãi suất cho vay ngắn hạn bằng VND dành cho các đối tượng ưu tiên là 5,3%-6,5%/năm và trung dài hạn 6,5%-10%/năm; lãi suất cho vay lĩnh vực SXKD khác ngắn hạn ở mức 6,5%-9%/năm; trung dài hạn ở mức 9,3%-11,5%/năm; lãi suất cho vay USD ở mức 2,5%-4%/năm đối với ngắn hạn; 3%-6,5%/năm đối với trung và dài hạn.

Ước đến cuối tháng 01/2018, huy động vốn toàn tỉnh được 74.150 tỷ đồng, tăng 17,82% so cùng kỳ năm trước: Huy động bằng đồng Việt Nam 72.260 tỷ đồng, tăng 18,04%; huy động bằng ngoại tệ 1.890 tỷ đồng, tăng 10,14%. Dư nợ cho vay của các tổ chức tín dụng đến cuối tháng 01/2018 ước được 67.230 tỷ đồng, tăng 26,44% so cùng kỳ năm trước: Dư nợ bằng VNĐ 62.570 tỷ đồng, tăng 28,57%; dư nợ bằng ngoại tệ 4.660 tỷ đồng, tăng 3,44%.

7. Một số vấn đề xã hội

a) Giáo dục: 

Sở Giáo dục và Đào tạo đã chỉ đạo các đơn vị, trường học trong toàn tỉnh tiến hành sơ kết học kỳ I và triển khai nhiệm vụ học kỳ II năm học 2017 - 2018; tổ chức kỳ thi học sinh giỏi cấp quốc gia năm học 2017 - 2018 tại Trường THPT chuyên Lê Quý Đôn an toàn, nghiêm túc, đúng quy chế với 64 thí sinh của 10 đội tuyển dự thi (mỗi đội có 6 thí sinh, riêng đội tuyển môn Tiếng Anh và Tiếng Pháp có 8 thí sinh). Sở đã phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức kiểm tra 8 trường THCS đạt chuẩn quốc gia tại thành phố Cam Ranh và huyện Cam Lâm, kết quả 8/8 trường THCS đạt chuẩn; kiểm tra 6 trường tiểu học tại thành phố Nha Trang, thành phố Cam Ranh và huyện Cam Lâm, kết quả 6/6 trường tiểu học đạt chuẩn.

b) Y tế:

Sở Y tế chỉ đạo các bệnh viện, trung tâm y tế các huyện, thị xã, thành phố, phòng khám tư nhân, trung tâm y tế dự phòng xây dựng và triển khai kế hoạch dự trữ thuốc, không để xảy ra tình trạng thiếu thuốc phục vụ công tác khám, chữa bệnh cho nhân dân; chú trọng bảo đảm sẵn sàng cung ứng các loại thuốc phục vụ cấp cứu, phòng chống dịch bệnh, đặc biệt là cúm A/H1N1, A/H5N1, bệnh Tay - Chân - Miệng, sốt xuất huyết, tiêu chảy… Trong tháng đã khám chữa bệnh cho 308,14 nghìn lượt người; điều trị nội trú 22,76 nghìn lượt; phẫu thuật 2.069 lượt người; ghi nhận 330 ca sốt xuất huyết; 2 ca sốt rét; 20 ca bệnh Tay - Chân - Miệng; 6 ca viêm gan virút. Đã thực hiện tiêm đủ liều cho 1.577 trẻ dưới 1 tuổi; tiêm sởi mũi 2 cho 1.480 trẻ dưới 18 tháng tuổi; tiêm UV2+ cho 1.516 phụ nữ có thai.

Trong tháng, đã phát hiện 10 ca nhiễm mới HIV nâng tổng số người nhiễm đến nay lên 3.539 người; trong đó có 2.174 người chuyển sang giai đoạn AIDS; 1.233 người chết do AIDS.

c) Văn hóa, thể thao:

Ngành Văn hóa và Thể thao đã triển khai tổ chức nhiều hoạt động văn hóa, nghệ thuật Mừng Đảng Mừng Xuân Mậu Tuất 2018; đã thực hiện 40 đợt tuyên truyền xe lưu động với hơn 60 cờ Đảng, cờ tổ quốc, phướn… Trung tâm Điện ảnh tỉnh tổ chức 6 đội chiếu phim lưu động với 67 buổi chiếu phim phục vụ 12,64 nghìn lượt người xem là nhân dân miền núi, hải đảo, vùng sâu, vùng xa. Bảo tàng tỉnh triển khai kế hoạch tổ chức các hoạt động “Mừng Đảng - Mừng Xuân” tại di tích Tháp Bà và danh lam thắng cảnh Hòn Chồng nhằm phục vụ nhu cầu tham quan, tín ngưỡng của 288,35 nghìn lượt nhân dân và du khách... Thư viện tỉnh đã phục vụ 10.801 lượt độc giả (2.418 lượt thiếu nhi, 8.182 lượt người lớn, 201 lượt bạn đọc truy cập internet); luân chuyển sách báo tại chỗ 38.028 lượt; cấp mới và gia hạn 79 thẻ.

Về thể thao thành tích cao: Đã tham gia giải việt dã Chào năm mới BTV Number I lần thứ XIX năm 2018 tại tỉnh Bình Dương, kết quả đạt 02 bộ huy chương đồng./.



Các bài mới nhất


THÔNG TIN MỚI

Quyết định số 3194/QĐ-UBND ngày 26/10/2017 của UBND tỉnh Khánh Hòa “Về việc ban hành biểu mẫu thu thập hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh”

Quyết định số 2881/QĐ-UBND của UBND tỉnh Khánh Hòa "Ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Đề án tăng cường quản lý nhà nước về chất lượng thống kê đến năm 2030 trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa"

Quyết định số 1692/QĐ-UBND ngày 14/6/2016 của UBND tỉnh Khánh Hòa "Về việc ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật Thống kê trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa"

UBND tỉnh Khánh Hòa tổ chức Hội nghị phổ biến Luật Thống kê

Nghị định số 94/2016/NĐ-CP của Chính phủ : Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thống kê

Nghị định số 95/2016/NĐ-CP của Chính phủ : Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thống kê

Nghị định số 97/2016/NĐ-CP của Chính phủ : Quy định nội dung chỉ tiêu thống kê thuộc hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia

Tình hình kinh tế xã hội tháng 6 năm 2016

Tờ gấp Khánh Hòa
Kinh tế xã hội năm 2015

Quy trình kiểm tra, giám sát thực hiện phương án điều tra thống kê và chế độ báo cáo thống kê

 LIÊN KẾT WEBSITE