Chỉ số giá tiêu dùng toàn quốc

TÌNH HÌNH KINH TẾ XÃ HỘI THÁNG 4/2017
Tình hình kinh tế xã hội | Tình hình kinh tế xã hội

Tốc độ phát triển một số chỉ tiêu Kinh tế chủ yếu tỉnh Khánh Hòa
tháng 4/2017 so với tháng trước và 4 tháng năm 2017 so với cùng kỳ năm trước

 (%)

Một số chỉ tiêu kinh tế chủ yếu

Tháng 4/2017 so với tháng trước

4 tháng năm 2017 so với cùng kỳ năm trước

Chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp

111,21

106,02

Vốn đầu tư ngân sách nhà nước thực hiện

119,95

96,74

Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

101,29

115,06

Tổng kim ngạch xuất khẩu

86,01

123,55

Tổng kim ngạch nhập khẩu

97,22

87,68

Doanh thu du lịch

103,79

135,56

Khách quốc tế đến Khánh Hòa

99,18

182,23

Chỉ số giá tiêu dùng

99,33

103,17

Chỉ số giá vàng

99,73

109,48

Chỉ số giá đô la Mỹ

99,70

102,08

 

Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ sốgiá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ
Tháng 4 năm 2017

 

Chỉ số giá tháng 4/2017 so với (%)

Bình 
năm 2017 so
cùng
kỳ

Kỳ gốc 2009

Cùng tháng năm trước

Tháng 12 năm trước

Tháng trước

Chỉ số giá tiêu dùng

104,25

103,17

100,53

99,33

103,66

I. Hàng ăn và dịch vụ ăn uống

104,15

100,49

97,08

98,82

102,30

   Trong đó:  1- Lương thực

101,62

100,42

100,07

100,00

103,21

                    2- Thực phẩm

106,36

100,72

94,88

97,93

103,13

                    3- Ăn uống ngoài gia đình

101,18

100,11

100,06

100,00

100,48

II. Đồ uống và thuốc lá

106,93

102,05

100,77

100,59

102,02

III. May mặc, mũ nón, giầy dép

102,86

100,90

100,02

100,00

100,90

IV. Nhà ở, điện, nuớc, chất đốt,VLXD

105,92

101,94

100,55

99,34

103,72

V. Thiết bị và đồ dùng gia đình

101,39

100,44

100,26

100,10

100,48

VI. Thuốc và dịch vụ y tế

155,50

141,23

141,23

100,00

124,92

VII. Giao thông

85,31

113,36

103,81

98,52

112,18

VIII. Bưu chính viễn thông

98,44

100,00

100,00

100,00

100,00

IX. Giáo dục

109,76

103,77

100,00

100,00

103,76

X. Văn hoá, giải trí và du lịch

103,08

100,29

101,06

99,83

100,59

XI. Hàng hoá và dịch vụ khác

104,23

101,20

100,15

100,04

101,28

Chỉ số giá vàng

102,21

109,48

103,55

99,73

109,03

Chỉ số giá đô la Mỹ

107,18

102,08

99,28

99,70

101,96

 

Giá Bán Lẻ Hàng Hóa tháng 4 năm 2017

DANH MỤC HÀNG HÓA

ĐVT

THÁNG 4/2017

THÁNG 4/2016

THÁNG 12/2016

Gạo tẻ thường ( ML 202)

đ/kg

9.898

9.898

9.898

Gạo tẻ ngon ( Gò Công)

đ/kg

16.092

16.896

16.092

Gạo nếp thường

đ/kg

16.684

16.378

16.684

Sắn tươi

đ/kg

7.607

7.607

7.607

Thịt lợn mông sắn

đ/kg

89.280

85.977

90.978

Thịt bò bắp

đ/kg

207.668

204.708

204.708

Gà mái ta còn sống  1.5 kg/con

đ/kg

94.836

89.889

94.836

Trứng vịt loại vừa

Đồng /10 quả

24.131

26.380

31.454

Dầu ăn Tường An 1 lít

đ/lít

41.793

41.793

41.793

Đậu xanh hạt loại 1

đ/kg

34.231

34.231

34.231

Đậu nành

đ/kg

17.559

17.559

17.559

Đậu phụng loại 1

đ/kg

43.729

43.729

43.729

Cá thu khúc giữa

đ/kg

217.963

237.883

241.637

Muối hạt

đ/kg

2.789

2.789

2.789

Nước mắm cá cơm 15 độ đạm

đ/lít

23.389

23.389

23.389

Bột ngọt Ạinomoto gói 454 g

đ/kg

62.093

62.093

62.093

Sữa đặt có đường hiệu Ông Thọ

đ/hộp

21.000

21.000

21.000

Nước khoáng VIKODA 500ml

đ/lít

7.975

7.975

7.975

Bia hơi Win – San Migue

đ/lít

7.391

7.391

7.391

Thuốc lá White Hore Khánh Hòa

đ/bao

21.000

21.000

21.000

Đường trắng kết tinh Khánh Hòa

đ/kg

17.674

17.173

18.175

Giấy kẻ ngang 20 tờ/tập

đ/tập

5.378

5.378

5.378

Vitamin B1 – 100mg. lọ 100 viên

đ/100viên

6.188

6.188

6.188

Xi măng đen PC40 Hoàng Thạch

đ/kg

1.736

1.736

1.736

Gạch xây ( gạch ống Tuynen)

đ/viên

937

907

907

Dầu hỏa

đ/lít

12.363

9.070

11.328

Xăng A92

đ/lít

17.703

14.778

16.887

Điện sinh hoạt

đ/kwh

1.865

1.859

1.922

Gas đun ( bình 12kg-Shellgas)

đ/kg

27.125

23.175

25.569

Nước máy

đ/m3

5.614

5.321

5.373

Vàng 99.99%

Nghìn đ/chỉ

3.676

3.358

3.602

Đô la Mỹ

đ/USD

22.768

22.306

22.933

 

BÁO CÁO
Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Khánh Hòa
tháng 4 và 4 tháng đầu năm 2017

                                                   

1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

a) Nông nghiệp:

Các địa phương trong tỉnh tập trung chăm sóc, thu hoạch các loại cây trồng vụ đông xuân 2016-2017 và gieo sạ lúa hè thu. Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm từ đầu vụ đông xuân đến nay ước được 47.190 ha, bằng 59,1% KH, trong đó cây lương thực 21.924,5 ha, bằng 44,82%; cây chất bột có củ 4.009 ha, bằng 84,69%; cây thực phẩm 2.569 ha, bằng 39,2%; cây công nghiệp hàng năm 18.241,6 ha, bằng 92,85%. So với cùng kỳ năm trước, tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm giảm 3,14% do diện tích gieo trồng lúa hè thu chậm hơn cùng vụ năm trước (giảm 30,5%); cây chất bột có củ giảm 21,03% chủ yếu giảm diện tích trồng sắn; cây lương thực tăng 2,14%; cây thực phẩm tăng 6,72%; cây công nghiệp hàng năm tăng 3,22%.

Tính đến nay, nhiều cây trồng vụ đông xuân đã được thu hoạch, trong đó lúa đông xuân thu hoạch được 15.091 ha, bằng 75,38% diện tích gieo sạ; năng suất bình quân 58,53 tạ/ha, giảm 5,24 tạ/ha so vụ đông xuân năm trước do giai đoạn thu hoạch gặp mưa lớn làm đổ ngã một số diện tích lúa. Ngoài ra, toàn tỉnh cũng đã thu hoạch 12.546 ha/17.712 ha mía và 3.819 ha/3.758 ha sắn năm 2016 chuyển sang với năng suất bình quân về mía khoảng 496,86 tạ/ha, về sắn khoảng 179,33 tạ/ha.

Công tác phòng chống dịch ở đàn gia súc, gia cầm được kiểm tra, giám sát chặt chẽ; đồng thời phối hợp với các địa phương triển khai các biện pháp phòng chống dịch bệnh, vệ sinh tiêu độc chuồng trại, kiểm soát các cơ sở kinh doanh, giết mổ đề phòng dịch bệnh xảy ra trên địa bàn tỉnh. Ước tính đến 30/4/2017 đàn trâu có 4.416 con, giảm 1,45% so cùng kỳ năm trước; đàn bò 78.557 con, tăng 1,72%; đàn lợn 170,44 nghìn con, tăng 2,25% và đàn gia cầm 2.799,5 nghìn con, tăng 2,31%.

b) Lâm nghiệp:

Sản lượng khai thác gỗ từ rừng trồng tháng 4/2017 được 2.332 m3, tăng 5,71% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 4 tháng đầu năm 2017, khai thác gỗ từ rừng trồng đạt 8.300 m3, giảm 0,94% so với cùng kỳ năm trước; khai thác củi 8.226 ste, giảm 5,61%. Các đơn vị lâm nghiệp tập trung chủ yếu vào chăm sóc, khoanh nuôi tái sinh và bảo vệ rừng; đẩy mạnh công tác phòng chống cháy rừng trong mùa khô và triển khai các giải pháp ngăn chặn nạn chặt phá rừng trái phép. Từ ngày 01/01/2017 đến 14/4/2017 lực lượng kiểm lâm đã phát hiện 112 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, xử lý 72 vụ, tịch thu 142,4 m3 gỗ các loại, thu nộp ngân sách 2.074,8 triệu đồng tiền phạt và tiền bán lâm sản tịch thu.

c) Thủy sản:

Tổng sản lượng thủy sản tháng 4/2017 ước được 12.156,1 tấn, tăng 2,04% so cùng kỳ năm trước: Khai thác thủy sản được 11.213,7 tấn, tăng 2,78%, trong đó cá ngừ đại dương 10.410 tấn, tăng 3,24%; tôm 78 tấn, tăng 2,09%; thu hoạch thủy sản nuôi trồng đạt 942,4 tấn, giảm 5,92%, trong đó 284,2 tấn cá và 378,5 tấn tôm giảm lần lượt là 8,39% và 10,09% do ô nhiễm vùng nuôi nên các hộ chuyển đổi nuôi trồng sang các loài khác.

Từ đầu năm đến nay thời tiết tương đối thuận lợi cho việc đánh bắt thủy sản, cùng với chính sách phát triển ngành thủy sản nên đã khuyến khích nhiều hộ ngư dân đồng loạt ra khơi bám biển. Tổng sản lượng thủy sản 4 tháng đầu năm 2017 ước được 30.836,7 tấn, tăng 2% so cùng kỳ năm trước. Về đánh bắt thủy sản được 29.054,1 tấn, tăng 2,41%: 25.884,3 tấn cá, tăng 1,68% (trong đó 1.112,4 tấn cá ngừ đại dương, tăng 3,33%); 229 tấn tôm, tăng 5,63%; 2.940,8 tấn thủy sản khác, tăng 8,38%. Về thủy sản nuôi trồng được 1.782,6 tấn, giảm 4,25% chủ yếu giảm sản lượng tôm do ô nhiễm vùng nuôi.

Diện tích nuôi trồng thủy sản 4 tháng đầu năm 2017 ước được 2.466,8 ha, giảm 10,75% so cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích nuôi cá 296,1 ha, giảm 4,7%; diện tích nuôi tôm 1.342,2 ha, giảm 19,37% do người nuôi không đầu tư; diện tích nuôi thủy sản khác 828,5 ha, tăng 8,88% chủ yếu tăng diện tích nuôi ốc hương.

2. Sản xuất công nghiệp

Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 4/2017 tăng 11,67% so cùng kỳ năm trước và tăng 11,21% so với tháng trước. Tính chung 4 tháng đầu năm 2017, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 6,02% so với cùng kỳ năm trước: Ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước tăng 29,18%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 9,29%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 6,19%; riêng công nghiệp khai khoáng giảm 25,46%.

Trong các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo một số ngành có chỉ số sản xuất công nghiệp 4 tháng đầu năm 2017 tăng so cùng kỳ năm trước: Chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa tăng 2,3 lần; sản xuất trang phục tăng 28,9%; sản xuất đồ uống tăng 23,79%; sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 2,97%; sản xuất chế biến thực phẩm tăng 2,42%. Các ngành có chỉ số sản xuất giảm như: Dệt giảm 29,85%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế giảm 13,75%; sản xuất sản phẩm thuốc lá giảm 3,62%.

Một số sản phẩm có chỉ số sản xuất 4 tháng đầu năm 2017 tăng so cùng kỳ năm trước: Bia đóng lon tăng 11,9 lần; bia hơi tăng 31,14%; bia tươi tăng 4,49%; điện sản xuất tăng 3,26 lần; nước yến tăng 14,25%; cá khác đông lạnh tăng 13,79%; cá ngừ đông lạnh tăng 11,72%; đường RS tăng 8,18%; tôm đông lạnh tăng 6,31%; điện thương phẩm tăng 1,36%. Một số sản phẩm có chỉ số giảm như: Sợi tổng hợp giảm 41,34%; bia đóng chai giảm 30,96%; đường RE giảm 22,74%; sợi tự nhiên giảm 19,85%; thuốc lá có đầu lọc giảm 3,62%.

Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 3/2017 tăng 7,11% so cùng kỳ năm trước và tăng 25,64% so với tháng trước. Tính chung 03 tháng đầu năm, chỉ số tiêu thụ tăng 2,89% so cùng kỳ năm trước. Các ngành có chỉ số tiêu thụ 03 tháng đầu năm 2017 tăng so với cùng kỳ năm trước là: Sản xuất đồ uống tăng 2,18 lần; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa tăng 39,89%; sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 14,45%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 5,68%. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ giảm là: Dệt giảm 61,04%; sản xuất sản phẩm thuốc lá giảm 13,67%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế giảm 8,89%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim khác giảm 7,88%; sản xuất trang phục giảm 6,59%; sản xuất và chế biến thực phẩm giảm 6,53%.

3. Đầu tư xây dựng 

Vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn nhà nước do địa phương quản lý trên địa bàn tỉnh thực hiện tháng 4/2017 được 209 tỷ đồng: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh 132 tỷ đồng, vốn ngân sách nhà nước cấp huyện 65 tỷ đồng và vốn ngân sách nhà nước cấp xã 12 tỷ đồng. Tính chung 4 tháng đầu năm 2017, vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn nhà nước do địa phương quản lý ước thực hiện được 607,3 tỷ đồng, giảm 3,26% so cùng kỳ năm trước: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh 370,7 tỷ đồng, giảm 16,07%; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện 206,04 tỷ đồng, tăng 36,46% và vốn ngân sách nhà nước cấp xã 30,56 tỷ đồng, giảm 12,95%.

Tháng 4/2017, có 21 công trình khởi công mới với tổng dự toán trên 56,2 tỷ đồng và 10 công trình hoàn thành bàn giao đưa vào sử dụng với tổng vốn đầu tư 16 tỷ đồng. Tính từ đầu năm đến tháng 4/2017 có 30 công trình khởi công mới với tổng vốn đầu tư trên 80,5 tỷ đồng và 25 công trình hoàn thành bàn giao đưa vào sử dụng với tổng vốn đầu tư trên 82,4 tỷ đồng.

Trong tháng, các đơn vị xây dựng tiếp tục thi công các công trình chuyển tiếp của năm 2016 và đang hoàn tất hồ sơ dự toán, thủ tục pháp lý cho các công trình khởi công trong năm 2017. Một số công trình có tiến độ thi công và vốn thực hiện khá là: Trụ sở làm việc BQL Vịnh, trụ sở làm việc Đội Thanh niên xung kích, trường MN Ngọc Hiệp, trường MN Vĩnh Hòa, trường MN Vĩnh Phước, trường MN Vĩnh Lương, trường TH Phước Long 2, đường Thái Thông - Xuân Sơn, công viên Sứa Biển, hệ thống thoát nước khu Vĩnh Điềm, CSHT khu TĐC Hòn Rớ II, bờ kè Tây Hải (Nha Trang); trường MG Cam Nghĩa, trường MN 2 tháng 4, trường TH Cam Nghĩa 1, trường TH Cam Linh 1, đập Nghĩa Cam, cầu Thanh Cừ (Cam Ranh); trường MN Sóc Nâu, trường MG Vàng Anh, trường MG Anh Đào, trường THCS A.Yersin, trụ sở làm việc Huyện ủy và UBND huyện, nhà VHTT xã (Cam Lâm); trường TH Ninh Thọ, khu TĐC Ninh Thọ, hệ thống thoát lũ thôn Tân Lâm (Ninh Hòa); trường TH Vạn Bình, trường TH Vạn Hưng, trường MG Vạn Hưng, khu TĐC Vạn Lương, đường Phạm Ngũ Lão (Vạn Ninh); trường TH xã Cầu Bà, trường MN Hoa Phượng, hội trường Huyện ủy, nhà công vụ Huyện ủy, khu TĐC thôn Bố Lang, khu TĐC thị trấn, khu TĐC Gia Lợi, hệ thống nước sinh hoạt xã Liên Sang (Khánh Vĩnh); kè và đường dọc Sông Cái, kè chống sạt lở bờ Bắc, khu dân cư Phú Ân Nam 2 (Diên Khánh); đường vào khu sản xuất thôn Ko Róa, hệ thống nước sinh hoạt xã Ba Cụm Bắc, trường MN Vành Khuyên, vỉa hè đường Lê Duẩn, đường D9, khu TĐC thôn Dốc Trầu (Khánh Sơn)…

4. Thương mại, du lịch, giá cả

a) Tổng mức bán hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng:

Là tháng có nhiều ngày nghỉ lễ nên nhu cầu chi tiêu, vui chơi giải trí của nhân dân và khách du lịch tăng mạnh; đây là dịp thuận lợi cho các doanh nghiệp quảng bá sản phẩm, giới thiệu nhiều sản phẩm mới, phong phú, đa dạng tạo thương hiệu riêng trên thị trường trong nước và quốc tế; cùng với đó các doanh nghiệp, hộ kinh doanh đã có nhiều chương trình khuyến mãi giảm giá, bốc thăm trúng thưởng thường xuyên được tổ chức,... đã tác động tích cực tăng sức mua góp phần đưa tổng mức bán hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng tháng 4/2017 ước được 12.171,2 tỷ đồng tăng 1,36% so tháng trước, trong đó bán lẻ được 6.810 tỷ đồng, tăng 1,29%: Bán lẻ ngành thương mại 4.925,4 tỷ đồng, tăng 1,01%; ngành dịch vụ 747 tỷ đồng, tăng 0,73%; du lịch lữ hành 24,4 tỷ đồng, tăng 2,73%; lưu trú và ăn uống 1.113,2 tỷ đồng, tăng 2,95%. Chi cục Quản lý thị trường đã thực hiện 232 lượt kiểm tra các cơ sở SXKD, vận chuyển, mua bán hàng cấm, hàng nhập lậu, phát hiện 84 vụ vi phạm, xử lý 82 vụ, thu nộp ngân sách 346,72 triệu đồng.

4 tháng đầu năm 2017, tổng mức bán hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng ước được 47.763,5 tỷ đồng, tăng 15,08% so cùng kỳ năm trước: Kinh tế nhà nước bán được 6.656,25 tỷ đồng, tăng 3,6%, trong đó các doanh nghiệp thương mại dịch vụ nhà nước được 6.304,86 tỷ đồng, tăng 7,48% với các mặt hàng chủ yếu: 114.478 tấn xăng dầu, giảm 4,53%; 180,47 triệu bao thuốc lá, giảm 20,61%; kinh tế tập thể 26,59 tỷ đồng, tăng 17,58%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 94,4 tỷ đồng, tăng 23,28%; kinh tế tư nhân, cá thể và hỗn hợp 40.986,26 tỷ đồng, tăng 17,17%. Trong tổng mức hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng 4 tháng đầu năm 2017, tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng được 26.730,6 tỷ đồng, tăng 15,06% so cùng kỳ năm trước: Ngành dịch vụ lữ hành 86,7 tỷ đồng, tăng 24,32%; ngành thương mại 19.375,37 tỷ đồng, tăng 14,9%; ngành dịch vụ lưu trú và ăn uống 4.323,23 tỷ đồng, tăng 15,69% và ngành dịch vụ 2.945,34 tỷ đồng, tăng 14,93%. 

b) Du lịch:

Với sự đa dạng các loại hình du lịch và dịch vụ vui chơi, giải trí như: Mô tô nước, ca nô kéo dù bay, flyboard, tàu lặn biển thể thao, du lịch sinh thái, tắm bùn khoáng nóng... Nha Trang - Khánh Hòa luôn là điểm thu hút khách du lịch tham quan, vui chơi, nghỉ dưỡng trong các ngày lễ lớn: Giỗ tổ Hùng Vương, lễ hội Am Chúa, lễ hội Tháp Bà Ponaga, ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước 30 tháng 4, ngày Quốc tế Lao động 1 tháng 5. Đặc biệt, hưởng ứng ngày Văn hóa các dân tộc Việt Nam 19 tháng 4, nhiều hoạt động văn hóa, nghệ thuật được tổ chức như triển lãm ảnh, biểu diễn nghệ thuật, hội thi ẩm thực dân gian, hội thao các dân tộc thiểu số với sự tham gia của nhiều đoàn nghệ thuật dân gian như Đoàn Ca múa nhạc Hải Đăng, Đoàn Ca múa nhạc Dân tộc tỉnh Quảng Ngãi, Đoàn Nghệ thuật dân gian Chăm Ninh Thuận, Đoàn Ca múa nhạc Dân tộc tỉnh Sơn La nhằm giới thiệu sự đa dạng của văn hóa dân tộc Việt Nam đến với du khách trong và ngoài nước. Ước doanh thu du lịch tháng 4/2017 được 1.215,33 tỷ đồng, tăng 3,79% so tháng trước, với 435 nghìn lượt khách và 1.100 nghìn ngày khách, tăng lần lượt là 17,11% và 15,15%. Tính chung 4 tháng đầu năm 2017, doanh thu hoạt động du lịch được 4.612,05 tỷ đồng, tăng 35,56% so cùng kỳ năm trước; khách lưu trú được 1.602,39 nghìn lượt người với 4.143,14 nghìn ngày khách, tăng lần lượt là 24,48% và 38,36%, trong đó 652,24 nghìn lượt khách quốc tế với 2.202,35 nghìn ngày khách quốc tế, tăng lần lượt là 82,23% và 98,56%. Số lượt khách tham quan du lịch trên toàn tỉnh 4 tháng đầu năm 2017 được 6,16 triệu lượt người (không tính khách tham quan bằng tàu biển), tăng 20,65% so cùng kỳ năm trước.

c) Xuất, nhập khẩu hàng hóa:

Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng 4/2017 được 112,44 triệu USD, giảm 13,99% so tháng trước: Kinh tế nhà nước 4,2 triệu USD, giảm 12,4%; kinh tế tập thể 185 nghìn USD, tăng 8,38%; kinh tế tư nhân 45,1 triệu USD, tăng 0,58%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 63 triệu USD, giảm 22,2%. Kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng chủ yếu như: 350 nghìn USD sản phẩm mây, tre và thảm, tăng 27,09%; 3,5 triệu USD sản phẩm gỗ, tăng 4,28%; 36 triệu USD hàng thủy sản, tăng 3,77%; 7,7 triệu USD hàng dệt may, tăng 3,19%; 4,8 triệu USD hàng hóa khác, tăng 1,86%; 300 nghìn USD sắn và sản phẩm từ sắn, giảm 49,39%; 20 nghìn USD quặng và khoáng sản khác, giảm 48,32%; 2,35 triệu USD máy móc thiết bị và dụng cụ phụ tùng, giảm 25,44%; 42,58 triệu USD phương tiện vận tải và phụ tùng, giảm 24,6%. Trong 4 tháng đầu năm 2017, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa trên địa bàn toàn tỉnh ước được 469,57 triệu USD, tăng 23,55% so cùng kỳ năm trước: Kinh tế nhà nước được 15,72 triệu USD, giảm 10,32%; kinh tế tập thể 579,2 nghìn USD, tăng 10,85%; kinh tế tư nhân được 178,03 triệu USD, tăng 27,2%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 275,25 triệu USD, tăng 23,95%. Một số mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu tăng so cùng kỳ năm trước: 8,54 triệu USD máy móc thiết bị và dụng cụ phụ tùng, tăng 2,3 lần; 64,18 triệu USD cà phê, tăng 68,21%; 199,62 triệu USD phương tiện vận tải và phụ tùng, tăng 29,3%; 29,21 triệu USD hàng dệt may, tăng 24,9%; 17,1 triệu USD các nhóm hàng hóa khác, tăng 19,14%; 126,36 triệu USD hàng thủy sản, tăng 10,39%; 113 nghìn USD hàng rau quả, tăng 9,92%. Một số mặt hàng xuất khẩu có kim ngạch xuất khẩu giảm như: 412 triệu USD cao su, giảm 56,89%; 711 nghìn USD hạt điều, giảm 45,31%; 67,8 triệu USD nguyên phụ liệu dệt-may-da-giày, giảm 43,5%; 12,21 triệu USD sản phẩm bằng gỗ, giảm 14,41%; 1,35 triệu USD sản phẩm mây, tre và thảm, giảm 6,28%; 1,83 triệu USD sắn và sản phẩm từ sắn, giảm 3,57%.

Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 4/2017 được 50,11 triệu USD, giảm 2,78% so tháng trước: Kinh tế nhà nước 9,41 triệu USD, tăng 2,2 lần; kinh tế tư nhân 18,2 triệu USD, tăng 1,62%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 22,5 triệu USD, giảm 23,73%. Kim ngạch nhập khẩu một số mặt hàng như: 4,58 triệu USD hàng hóa khác, giảm 48,3%; 7,5 triệu USD máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác, giảm 43,56%; 2,93 triệu USD sắt thép các loại, giảm 8,57%; 350 nghìn USD nguyên liệu dược phẩm, giảm 1,05%; 9 triệu USD nguyên phụ liệu thuốc lá, tăng 2,6 lần; 1,15 triệu USD thức ăn gia súc và nguyên liệu, tăng 42,13%; 2,5 triệu USD gỗ và sản phẩm từ gỗ, tăng 12,94%; 17,2 triệu USD hàng thủy sản, tăng 10,22%; 2 triệu USD vải các loại, tăng 9,24%. Trong 4 tháng đầu năm 2017, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa ước được 182,27 triệu USD, giảm 12,32% so cùng kỳ năm trước: Kinh tế nhà nước được 24,71 triệu USD, giảm 32,8%; kinh tế tư nhân được 63,43 triệu USD, tăng 11,54%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 94,13 triệu USD, giảm 17,61%. Một số mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu giảm so cùng kỳ năm trước: 2,97 triệu USD thức ăn gia súc và nguyên liệu, giảm 55,1%; 35,34 triệu máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác, giảm 37,53%; 22,42 triệu USD hàng hóa khác, giảm 37,48%; 1,2 triệu USD nguyên phụ liệu dược phẩm, giảm 14,15%. Một số mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu tăng như: 7,67 triệu USD gỗ và sản phẩm từ gỗ, tăng 5,9 lần;  60,47 triệu USD hàng thủy sản, tăng 52,55%; 2,7 triệu USD nguyên phụ liệu dệt-may-da-giày, tăng 38,54%; 22,26 triệu USD nguyên phụ liệu thuốc lá, tăng 20,94%; 5,99 triệu USD vải các loại, tăng 4,82%.

d) Chỉ số tiêu dùng (CPI), chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ:

Giá xăng dầu được Bộ Tài chính điều chỉnh giảm vào ngày 05/4/2017 và tăng vào ngày 20/4/2017 với mức tăng chung của giá xăng là 270 đ/lít, giá dầu hỏa là 160 đ/lít, giá dầu Diezel giảm 20 đ/lít; giá gas điều chỉnh giảm 25.000 đ/bình 12 kg từ ngày 01/4/2017 do giá gas nhập khẩu giảm đã tác động đến chỉ số giá tiêu dùng tháng 4/2017 giảm 0,67% so tháng trước. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, có 3 nhóm hàng có chỉ số giá tăng so tháng trước như: Đồ uống và thuốc lá tăng 0,59%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,1%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,04%. Các nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá giảm như: Văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,17%; nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 0,66%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 1,18% do nhóm thực phẩm giảm 2,07%; nhóm giao thông giảm 1,48%. Các nhóm hàng hóa và dịch vụ còn lại có chỉ số giá ổn định như: Nhóm may mặc, mũ nón, giầy dép; thuốc và dịch vụ y tế; bưu chính viễn thông và giáo dục.

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 4/2017 tăng 0,53% so với tháng 12/2016 và tăng 3,17% so cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 4 tháng đầu năm 2017 tăng 3,66% so với chỉ số giá bình quân cùng kỳ năm trước. Một số nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng so tháng 12/2016 như: May mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,02%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,15%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,26%; nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,55%; đồ uống và thuốc lá tăng 0,77%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 1,06%; giao thông tăng 3,81%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 41,23%; riêng nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 2,92% trong đó, nhóm thực phẩm giảm 5,12%. Các nhóm bưu chính viễn thông; giáo dục có chỉ số giá ổn định.

Giá bán lẻ bình quân chung một số mặt hàng tháng 4/2017: Gạo tẻ ngon (Gò Công) 16.092 đồng/kg; gạo nếp thường 16.684 đồng/kg; gà mái ta còn sống 94.836 đồng/kg; thịt lợn mông sấn 89.280 đồng/kg; thịt bò bắp 207.668 đồng/kg; trứng vịt 24.131 đồng/10 quả; cá thu khúc giữa 217.963 đồng/kg; dầu ăn Tường An 41.793 đồng/lít; đường trắng kết tinh Khánh Hòa sản xuất 17.674 đồng/kg; sữa Ông Thọ 380g 21.000 đồng/hộp; bột ngọt Ajinomoto 62.093 đồng/gói; gas đun (bình 12 kg-Shellgas) 325.500 đồng/bình; vàng 99,99% 3.676 nghìn đồng/chỉ; đô la Mỹ 22.768 đồng/USD.

Giá vàng trong nước biến động theo giá vàng thế giới. Chỉ số giá vàng tháng 4/2017 giảm 0,27% so tháng trước, tăng 3,55% so tháng 12/2016 và tăng 9,48% so cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 4/2017 giảm 0,3% so tháng trước, giảm 0,72% so tháng 12/2016 và tăng 2,08% so cùng tháng năm trước.

5. Vận tải, bưu chính viễn thông

a) Vận tải:          

Ngành Giao thông vận tải phối hợp với các ngành chức năng tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát, xử lý nghiêm các vi phạm về đảm bảo an toàn và chất lượng dịch vụ vận tải như vi phạm về tốc độ, chở quá số người quy định, tăng giá vé trái quy định nhằm đảm bảo trật tự, an toàn giao thông trong dịp lễ 30/4 và 01/5.

Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải đường bộ, đường thủy tháng 4/2017 ước được 375,73 tỷ đồng, giảm 1,67% so tháng trước: Vận tải đường bộ được 279,06 tỷ đồng, giảm 0,31%; vận tải đường thủy 15,95 tỷ đồng, giảm 2,01%; vận tải kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải được 80,71 tỷ đồng, giảm 6,05%. Tính chung 4 tháng đầu năm 2017 doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải đường bộ, đường thủy ước được 1.612,66 tỷ đồng, tăng 12,08%: Vận tải đường bộ được 1.213,19 tỷ đồng, tăng 11,14%; vận tải đường thủy 66,52 tỷ đồng, tăng 6,6%; vận tải kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải được 332,96 tỷ đồng, tăng 16,89%. Trong tổng doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải đường bộ, đường thủy: Kinh tế nhà nước được 249,05 tỷ đồng, tăng 62,44%; kinh tế ngoài nhà nước được 1.363,61 tỷ đồng, tăng 11,08%.

Vận chuyển hành khách đường bộ và đường thủy 4 tháng đầu năm 2017 ước được 14.529 nghìn lượt người, tăng 12,54% so cùng kỳ năm trước (đường bộ được 13.875 nghìn lượt người và đường biển được 654 nghìn lượt người, tăng lần lượt là 12,87% và 6%); luân chuyển hành khách 809.022 nghìn lượt người.km, tăng 12,42% (đường bộ 802.509 nghìn lượt người.km và đường biển 6.513 nghìn lượt người.km tăng lần lượt là 12,47% và 6,91%).

Vận chuyển hàng hóa đường bộ và đường thủy 4 tháng đầu năm 2017 ước được 11.107,5 nghìn tấn, tăng 11,14% so cùng kỳ năm trước (đường bộ được 11.004,5 nghìn tấn và đường biển được 103 nghìn tấn, tăng lần lượt là 11,16% và 8,42%); luân chuyển hàng hóa 1.037.850 nghìn tấn.km, tăng 11,62% (đường bộ 843.814 nghìn tấn.km và đường biển 194.036 nghìn tấn.km tăng lần lượt là 12,11% và 9,51%).

Doanh thu vận chuyển đường sắt 4 tháng đầu năm 2017 ước được 81,81 tỷ đồng, tăng 14,23% so cùng kỳ năm trước: Vận chuyển hành khách 78,74 tỷ đồng, tăng 14,29%; vận chuyển hàng hóa 3,07 tỷ đồng, tăng 12,65%. Vận chuyển hành khách đường sắt được 255.871 lượt người, tăng 11,1%; luân chuyển hành khách 102.763,65 nghìn lượt người.km, tăng 6,87%; vận chuyển hàng hóa 4.704 tấn; luân chuyển hàng hóa 5.193,67 nghìn tấn.km, tăng lần lượt là 17,54% và 11,41%.

Từ ngày 16/3/2017 đến 15/4/2017, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 18 vụ tai nạn và va chạm giao thông đường bộ làm chết 15 người, bị thương 05 người. Trong 4 tháng đầu năm 2017 (từ ngày 16/12/2016 đến ngày 15/4/2017), trên địa bàn tỉnh xảy ra 48 vụ tai nạn và va chạm giao thông đường bộ làm chết 39 người, bị thương 18 người; tai nạn giao thông đường sắt xảy ra 05 vụ, chết 04 người, bị thương 01 người.

So cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn và va chạm giao thông đường bộ giảm 05 vụ, số người chết giảm 14 người, bị thương giảm 02 người; số vụ tai nạn đường sắt tăng 03 vụ, số người chết tăng 02 người, bị thương tăng 01 người.

b) Bưu chính viễn thông:

Số thuê bao điện thoại phát triển mới 4 tháng đầu năm 2017 được 4.275 thuê bao, nâng tổng số thuê bao điện thoại trên toàn tỉnh đến nay là 178.001 thuê bao: 88.334 thuê bao cố định và 89.667 thuê bao di động trả sau. 4 tháng đầu năm 2017, tổng doanh thu bưu chính viễn thông ước được 518,55 tỷ đồng, tăng 16,48% so cùng kỳ năm trước; 18,4 nghìn bưu kiện đi có cước, tăng 16,46%; 35,63 nghìn bức thư và điện chuyển tiền, tăng 15,59%; phát hành báo chí được 6.931 nghìn tờ, cuốn tăng 16,55%.

6. Tài chính, ngân hàng

a) Tài chính

Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh tháng 4/2017 ước được 1.406,9 tỷ đồng: Thu từ hoạt động xuất nhập khẩu được 300 tỷ đồng và thu nội địa 1.106,9 tỷ đồng. Tính chung 4 tháng đầu năm 2017 thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh ước được 6.227,58 tỷ đồng, tăng 11,2% so cùng kỳ năm trước: Thu từ hoạt động xuất nhập khẩu 1.968,94 tỷ đồng, tăng 69,89%; thu nội địa 4.258,63 tỷ đồng, giảm 4,11%. Trong tổng thu nội địa có các khoản thu tăng như: Thu tiền bán và thuê nhà ở thuộc sở hữu nhà nước tăng gấp 4,77 lần; thu thuế sử dụng đất phi nông nghiệp tăng 76,12%; thu khác ngân sách và thu ngân sách xã tăng 72,25%; thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản tăng 61,86%; thu phí và lệ phí tăng 58,25%; thu thuế sử dụng đất nông nghiệp tăng 31,28%; thu thuế thu nhập cá nhân tăng 26,05%; thu thuế bảo vệ môi trường tăng 21,74%; thu lệ phí trước bạ tăng 12,06%; thu tiền sử dụng đất tăng 8,35%. Các khoản thu giảm như: Thu tiền cho thuê mặt đất, mặt nước giảm 43,68%; thu cổ tức và lợi nhuận sau thuế giảm 18,18%; thu từ doanh nghiệp nhà nước địa phương giảm 15,13%; thu từ doanh nghiệp nhà nước trung ương giảm 14,82%; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài giảm 9,38%; thu từ khu vực công thương nghiệp ngoài quốc doanh giảm 6,18%; thu xổ số kiến thiết giảm 3,88%.

Tổng chi ngân sách nhà nước địa phương tháng 4/2017 ước được 787,27 tỷ đồng, trong đó chi đầu tư phát triển 255 tỷ đồng, chi thường xuyên 518 tỷ đồng. Trong 4 tháng đầu năm 2017, tổng chi ngân sách nhà nước địa phương ước được 3.164,89 tỷ đồng, bằng 32,08% dự toán, trong đó chi đầu tư phát triển được 1.462,64 tỷ đồng, bằng 42,65% (riêng chi đầu tư xây dựng cơ bản 453,71 tỷ đồng, bằng 31,61%); chi thường xuyên 1.686,4 tỷ đồng, bằng 29,55% với các khoản chi như: Chi sự nghiệp kinh tế 168,72 tỷ đồng, bằng 22,09%; chi sự nghiệp văn xã 1.016,62 tỷ đồng, bằng 30,33%; chi quản lý hành chính 374,51 tỷ đồng, bằng 34,18%; chi quốc phòng an ninh 74 tỷ đồng, bằng 42,35%; chi khác ngân sách 51,86 tỷ đồng, bằng 16,21%. So cùng kỳ năm trước, tổng chi ngân sách nhà nước địa phương giảm 20,35%, trong đó chi đầu tư phát triển giảm 16,61%, chi thường xuyên tăng 17,58%.

b) Ngân hàng

Lãi suất huy động VND kỳ hạn dưới 1 tháng phổ biến ở mức 0,3%-1%/năm; lãi suất kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng là 4,3%-5,5%/năm; lãi suất kỳ hạn từ 6 tháng đến dưới 12 tháng là 5,3%-6,8%/năm và đối với kỳ hạn từ 12 tháng trở lên là 6,5%-7,6/năm. Lãi suất cho vay ngắn hạn bằng VND dành cho các đối tượng ưu tiên là 4,8%-7%/năm và trung dài hạn 7%-10,5%/năm; lãi suất cho vay SXKD khác của khối NHTM Nhà nước ngắn hạn ở mức 7,5%-9,5%/năm; trung dài hạn ở mức 10%-11,5%/năm; khối NHTM cổ phần ngắn hạn ở mức 8,5%-11%/năm; trung dài hạn ở mức 9,5%-11,5%/năm; lãi suất cho vay USD ở mức 2,8%-5%/năm đối với ngắn hạn; 3,3%-6%/năm đối với trung và dài hạn.

Các Chi nhánh TCTD trên địa bàn tiếp tục tập trung cân đối nguồn vốn, đáp ứng nhu cầu vốn cho SXKD. Ước đến cuối tháng 4/2017, huy động vốn toàn tỉnh được 65.200 tỷ đồng, tăng 15,65% so cùng kỳ năm trước: Huy động bằng VND 63.210 tỷ đồng, tăng 16,31%; huy động bằng ngoại tệ 1.990 tỷ đồng, giảm 2,16%. Dư nợ cho vay của các tổ chức tín dụng đến cuối tháng 4/2017 ước được 54.900 tỷ đồng, tăng 24,69% so cùng kỳ năm trước: Dư nợ bằng VND 50.330 tỷ đồng, tăng 23,88%; dư nợ bằng ngoại tệ 4.570 tỷ đồng, tăng 34,33%.

7. Một số vấn đề xã hội

a) Giáo dục: 

Sở Giáo dục và Đào tạo đã triển khai các văn bản hướng dẫn xét tốt nghiệp THCS và tuyển sinh vào lớp 6, lớp 10 năm học 2017-2018; hướng dẫn công tác thi THPT quốc gia năm 2017. Tổ chức thi chọn học sinh giỏi THCS, THPT cấp tỉnh năm 2017 có 2.273 học sinh đăng ký dự thi ở các môn: Ngữ văn, Lịch sử, Địa lý, Toán, Vật lý, Hóa học, Sinh học Tiếng Anh, Tiếng Pháp, và Tin học. Tham gia thi học sinh giỏi giải Toán trên máy tính cầm tay năm học 2016-2017 cấp khu vực, kết quả có 21/30 học sinh đạt giải (1 giải Nhất, 2 giải Nhì, 10 giải Ba và 8 giải Khuyến khích); thi Olympic 30/4 của trường THPT Lê Quý Đôn với 03 trường THPT lần đầu tham gia gồm: THPT Phan Bội Châu, THPT Nguyễn Trãi, THPT Lý Tự Trọng. Tổ chức Hội thi hùng biện Tiếng Anh cấp tỉnh dành cho giáo viên của 08 Phòng GD-ĐT và 23 trường THPT trên toàn tỉnh, kết quả 30/69 cá nhân đạt giải (2 giải Nhất, 3 giải Nhì, 7 giải Ba và 18 giải Khuyến khích).

b) Y tế: 

Ngành Y tế tiếp tục tăng cường tuyên truyền đến các cơ sở y tế tuyến huyện, đẩy mạnh công tác phòng chống dịch bệnh, giám sát tả, dịch cúm A/H1N1, cúm A/H5N1 và đặc biệt là cúm A/H7N9, sốt xuất huyết, bệnh do virút Zika, sởi, rubella, bệnh Tay-Chân-Miệng, thủy đậu… Trong 4 tháng đầu năm 2017, ngành Y tế đã khám chữa bệnh cho 983,24 nghìn lượt người; điều trị nội trú 68,19 nghìn lượt người; phẫu thuật 8.059 lượt người; ghi nhận 24 ca sốt rét; 376 ca Tay-Chân-Miệng; 856 ca sốt xuất huyết; 01 ca virút Zika; 120 ca có biểu hiện rối loạn tiêu hóa sau khi ăn. Đã thực hiện tiêm chủng đủ liều cho 5.856 trẻ em dưới 1 tuổi; tiêm sởi mũi 2 cho 5.964 trẻ em 18 tháng tuổi; tiêm UV2+ cho 6.111 phụ nữ có thai; tiêm UV2 và UV2+ cho 816 phụ nữ 15-35.

Đã phát hiện thêm 6 trường hợp nhiễm HIV mới, nâng tổng số người nhiễm HIV đến nay là 3.459 người, trong đó 2.133 trường hợp đã chuyển sang giai đoạn AIDS; 1.212 người chết do AIDS.

c) Văn hóa, thể thao: 

 Ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã tổ chức nhiều hoạt động văn hóa, nghệ thuật, tuyên truyền kỷ niệm 42 năm ngày Giải phóng tỉnh Khánh Hòa (02/4/1975-02/4/2017); ngày Giải phóng miền Nam - thống nhất đất nước (30/4/1975-30/4/2017); ngày Quốc tế Lao động 01/5 cùng với các lễ hội lớn: Giỗ tổ Hùng Vương, lễ hội Am Chúa, lễ hội Tháp Bà Ponaga. Bảo tàng tỉnh đã phối hợp tổ chức 03 cuộc triển lãm nhân ngày Văn hóa các dân tộc Việt Nam 19 tháng 4 với các chuyên đề: “Đặc trưng văn hóa tiêu biểu các dân tộc thiểu số của Khánh Hòa”, “Sắc màu văn hóa các dân tộc” và “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam”. Trung tâm Điện ảnh tỉnh tổ chức chiếu phim lưu động với 125 buổi chiếu phim phục vụ đồng bào các dân tộc miền núi, hải đảo, vùng sâu, vùng xa với 22,33 nghìn lượt người xem. Trung tâm Văn hóa đã tổ chức 03 đợt tuyên truyền nhân các ngày lễ lớn của đất nước với 170 phướn, 650 cờ Đảng, cờ Tổ quốc; phối hợp với Nhà hát Nghệ thuật truyền thống và Đoàn ca múa nhạc Hải Đăng biểu diễn nghệ thuật với 24 buổi nhằm phục vụ du khách và nhân dân. Thư viện tỉnh phục vụ 11.022 lượt độc giả, luân chuyển sách báo tại chỗ 40.871 lượt; thực hiện cấp phát, gia hạn thẻ bạn đọc với 308 thẻ.

Về thể thao thành tích cao, đã tham gia tập luyện và thi đấu các giải: Giải việt dã Báo Tiền Phong tại tỉnh Ninh Bình, giải Cúp các Câu lạc bộ Kick-boxing toàn quốc tại tỉnh Bình Phước, thi đấu vòng loại bóng đá U19 quốc gia, giải vô địch và vô địch trẻ Taekwondo Đông Nam Á tại Malaysia. Năm 2017, Đội bóng chuyền Sanest Khánh Hòa đạt chức vô địch Cúp Hùng Vương và Đội bóng đá Sanest Khánh Hòa xếp hạng 3 giải bóng đá V-League. Tổng số huy chương đạt được từ đầu năm đến ngày 05/4/2017 là 26 bộ huy chương các loại (11 vàng, 06 bạc và 09 đồng); 02 vận động viên kiện tướng; 07 vận động viên cấp I./.



Các bài mới nhất


THÔNG TIN MỚI

UBND tỉnh Khánh Hòa tổ chức Hội nghị phổ biến Luật Thống kê

Nghị định số 94/2016/NĐ-CP của Chính phủ : Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thống kê

Nghị định số 95/2016/NĐ-CP của Chính phủ : Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thống kê

Nghị định số 97/2016/NĐ-CP của Chính phủ : Quy định nội dung chỉ tiêu thống kê thuộc hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia

Tình hình kinh tế xã hội tháng 6 năm 2016

Tờ gấp Khánh Hòa
Kinh tế xã hội năm 2015

Quyết định số 1692/QĐ-UBND ngày 14/6/2016 của UBND tỉnh Khánh Hòa "Về việc ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật Thống kê trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa"

Quy trình kiểm tra, giám sát thực hiện phương án điều tra thống kê và chế độ báo cáo thống kê

GIÁ VÀNG SJC
ĐVT: ngàn đồng/lượng
Giá mua vào Giá bán ra
Label Label
Cập nhật vào lúc Label
TỶ GIÁ NGOẠI TỆ
ĐVT: đồng
Mã NT Giá mua Giá bán
LabelLabelLabel
Cập nhật vào lúc Label
 LIÊN KẾT WEBSITE