Chỉ số giá tiêu dùng toàn quốc

TÌNH HÌNH KINH TẾ XÃ HỘI THÁNG 3/2017
Tình hình kinh tế xã hội | Tình hình kinh tế xã hội

Tốc độ phát triển một số chỉ tiêu Kinh tế chủ yếu tỉnh Khánh Hòa 

tháng 3/2017 so với tháng trước và 3 tháng năm 2017 so với cùng kỳ năm trước

 (%)

Một số chỉ tiêu kinh tế chủ yếu

Tháng 3/2017 so với tháng trước

3 tháng năm 2017 so với cùng kỳ năm trước

Chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp

134,17

106,30

Vốn đầu tư ngân sách nhà nước thực hiện

136,43

94,94

Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

101,50

115,24

Tổng kim ngạch xuất khẩu

-

110,95

Tổng kim ngạch nhập khẩu

-

93,67

Doanh thu du lịch

98,96

136,48

Khách quốc tế đến Khánh Hòa

101,20

183,87

Chỉ số giá tiêu dùng

100,18

104,09

Chỉ số giá vàng

100,30

109,26

Chỉ số giá đô la Mỹ

99,81

102,24

 

Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ sốgiá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ
Tháng 3 năm 2017

 

Chỉ số giá tháng 3/2017 so với (%)

Bình 
năm 2017 so
cùng
kỳ

Kỳ gốc 2009

Cùng tháng năm trước

Tháng 12 năm trước

Tháng trước

Chỉ số giá tiêu dùng

104,58

103,97

100,85

100,85

103,97

I. Hàng ăn và dịch vụ ăn uống

108,41

104,95

101,05

101,05

104,95

   Trong đó:  1- Lương thực

101,65

104,09

100,10

100,10

104,09

                    2- Thực phẩm

112,55

106,38

100,40

100,40

106,38

                    3- Ăn uống ngoài gia đình

103,77

102,72

102,62

102,62

102,72

II. Đồ uống và thuốc lá

106,30

102,22

100,17

100,17

102,22

III. May mặc, mũ nón, giầy dép

102,86

100,90

100,02

100,02

100,90

IV. Nhà ở, điện, nuớc, chất đốt,VLXD

105,78

104,15

100,41

100,41

104,15

V. Thiết bị và đồ dùng gia đình

101,55

100,63

100,42

100,42

100,63

VI. Thuốc và dịch vụ y tế

110,10

110,48

100,00

100,00

110,48

VII. Giao thông

85,77

106,58

104,37

104,37

106,58

VIII. Bưu chính viễn thông

98,44

100,00

100,00

100,00

100,00

IX. Giáo dục

109,76

103,77

100,00

100,00

103,77

X. Văn hoá, giải trí và du lịch

102,26

99,97

100,26

100,26

99,97

XI. Hàng hoá và dịch vụ khác

104,07

102,83

99,99

99,99

102,83

Chỉ số giá vàng

98,51

107,31

99,80

99,80

107,31

Chỉ số giá đô la Mỹ

108,26

101,58

100,28

100,28

101,58

 

Giá Bán Lẻ Hàng Hóa tháng 3 năm 2017

DANH MỤC HÀNG HÓA

ĐVT

THÁNG 3/2017

THÁNG 3/2016

THÁNG 12/2016

Gạo tẻ thường ( ML 202)

đ/kg

9.898

9.398

9.898

Gạo tẻ ngon ( Gò Công)

đ/kg

16.092

15.592

16.092

Gạo nếp thường

đ/kg

16.684

15.782

16.684

Sắn tươi

đ/kg

7.607

7.607

7.607

Thịt lợn mông sắn                 

đ/kg

90.978

85.918

90.978

Thịt bò bắp

đ/kg

207.668

206.657

204.708

Gà mái ta còn sống  1.5 kg/con

đ/kg

94.836

89.889

94.836

Trứng vịt loại vừa

Đồng /10 quả

26.797

27.317

31.454

Dầu ăn Tường An 1 lít

đ/lít

41.793

41.793

41.793

Đậu xanh hạt loại 1

đ/kg

34.231

34.231

34.231

Đậu nành

đ/kg

17.559

17.559

17.559

Đậu phụng loại 1

đ/kg

43.729

43.729

43.729

Cá thu khúc giữa

đ/kg

226.469

231.139

241.637

Muối hạt

đ/kg

2.789

2.789

2.789

Nước mắm cá cơm 15 độ đạm

đ/lít

23.389

23.389

23.389

Bột ngọt Ạinomoto gói 454 g

đ/kg

62.093

62.093

62.093

Sữa đặt có đường hiệu Ông Thọ

đ/hộp

21.000

21.000

21.000

Nước khoáng VIKODA 500ml

đ/lít

7.975

7.975

7.975

Bia hơi Win – San Migue

đ/lít

7.391

7.391

7.391

Thuốc lá White Hore Khánh Hòa

đ/bao

21.000

21.000

21.000

Đường trắng kết tinh Khánh Hòa

đ/kg

17.674

16.672

18.175

Giấy kẻ ngang 20 tờ/tập

đ/tập

5.378

5.378

5.378

Vitamin B1 – 100mg. lọ 100 viên

đ/100viên

6.188

6.188

6.188

Xi măng đen PC40 Hoàng Thạch

đ/kg

1.736

1.736

1.736

Gạch xây ( gạch ống Tuynen)

đ/viên

907

907

907

Dầu hỏa

đ/lít

12.848

9.070

11.328

Xăng A92              

đ/lít

18.158

14.088

16.887

Điện sinh hoạt

đ/kwh

1.888

1.889

1.922

Gas đun ( bình 12kg-Shellgas)

đ/kg

29.208

22.731

25.569

Nước máy               

đ/m3

5.616

5.343

5.373

Vàng 99.99%

Nghìn đ/chỉ

3.686

3.374

3.602

Đô la Mỹ

đ/USD

22.837

22.337

22.933

 

BÁO CÁO
Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Khánh Hòa
Quý I năm 2017

                                                   

1. Tăng trưởng kinh tế

Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) theo giá so sánh năm 2010 quý I/2017 ước được 10.480,48 tỷ đồng, tăng 6,72% so cùng kỳ năm trước. GRDP phân theo ngành kinh tế tăng 7,96%: Ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,45%; công nghiệp và xây dựng tăng 7,43%; dịch vụ tăng 9,93%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 1,49%.

Ngành nông, lâm nghiệp - thủy sản có mức tăng trưởng 2,45% do thời tiết tương đối thuận lợi, sản lượng vụ đông xuân tăng, dịch bệnh ở đàn gia súc, gia cầm chưa xảy ra, đàn lợn tăng 2,55%, gia cầm tăng 2,67%; đánh bắt thủy sản tăng 2,19% nhưng sản lượng nuôi trồng thủy sản giảm 2,31%. Trong khu vực kinh tế công nghiệp và xây dựng, ngành công nghiệp tăng 6,96%, ngành xây dựng tăng 11,29%. Khu vực dịch vụ đóng góp nhiều nhất vào mức tăng trưởng chung như: Ngành dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 19,38%; ngành thương mại tăng 10,9%; ngành nghệ thuật, vui chơi, giải trí tăng 10,21%; ngành vận tải tăng 8,7%.

Về cơ cấu nền kinh tế quý I/2017: Ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 12,28% (nông nghiệp chiếm 5,95%, lâm nghiệp chiếm 0,08%, thủy sản chiếm 6,25%); ngành công nghiệp và xây dựng chiếm 28,53%; ngành dịch vụ chiếm 41,59% (riêng du lịch chiếm 7,78%); thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 17,6%.

2. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

a) Nông nghiệp:

Các địa phương trong tỉnh tập trung gieo trồng, chăm sóc và thu hoạch các loại cây trồng vụ đông xuân 2016-2017. Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm từ đầu vụ đông xuân đến nay ước đạt 37.294 ha, trong đó lúa đông xuân được 20.020 ha, bằng 103,2% KH. So với cùng kỳ năm trước, tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm tăng 1%, trong đó cây lương thực tăng 2,5%, chủ yếu tăng diện tích trồng lúa; cây thực phẩm tăng 3,2%; cây hàng năm khác tăng 15,3%; riêng cây chất bột có củ giảm 2,8% do giảm diện tích trồng sắn; cây công nghiệp hàng năm giảm 1,9% chủ yếu giảm diện tích trồng mía.

Tính đến nay, toàn tỉnh thu hoạch được 5.060 ha lúa vụ đông xuân sớm, bằng 25,27% diện tích gieo sạ; năng suất 54,53 tạ/ha, giảm 0,52 tạ/ha so vụ đông xuân năm trước do ảnh hưởng thời tiết có mưa; thu hoạch 7.293,8 ha xoài với sản lượng 4.647 tấn, giảm 10,2% so cùng kỳ năm trước do thời tiết có sương muối gây tỷ lệ đậu quả thấp.

Công tác phòng chống dịch ở đàn gia súc, gia cầm được kiểm tra, giám sát chặt chẽ; đồng thời phối hợp với các địa phương triển khai các biện pháp phòng chống dịch bệnh, vệ sinh tiêu độc chuồng trại, kiểm soát các cơ sở kinh doanh, giết mổ đề phòng dịch bệnh xảy ra trên địa bàn tỉnh. Ước tính đến 31/3/2017 đàn trâu có 4.386 con, giảm 2,45% so cùng kỳ năm trước; đàn bò 78.129 con, tăng 2,37%; đàn lợn 171,86 nghìn con, tăng 2,55% và đàn gia cầm 2.680,5 nghìn con, tăng 2,67%.

b) Lâm nghiệp:

Quý I năm 2017, khai thác gỗ từ rừng trồng được 5.968 m3, giảm 3,3% so với cùng kỳ năm trước. Các đơn vị lâm nghiệp tập trung chủ yếu vào chăm sóc, khoanh nuôi tái sinh và bảo vệ rừng; đẩy mạnh công tác phòng chống cháy rừng trong mùa khô và triển khai các giải pháp ngăn chặn nạn chặt phá rừng trái phép. Từ ngày 01/01/2017 đến 14/3/2017 lực lượng kiểm lâm đã phát hiện 75 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, xử lý 44 vụ, tịch thu 83,6 m3 gỗ các loại, thu nộp ngân sách 1.935,9 triệu đồng tiền phạt và tiền bán lâm sản tịch thu.

c) Thủy sản:

Tổng sản lượng thủy sản quý I/2017 ước đạt 18.680,6 tấn, tăng 1,98% so cùng kỳ năm trước: Đánh bắt thủy sản đạt 17.840,4 tấn, tăng 2,19%, trong đó cá ngừ đại dương 722,4 tấn, tăng 2,86%; tôm 407,3 tấn, tăng 1,19%. Thu hoạch thủy sản nuôi trồng được 840,2 tấn, giảm 2,31%, trong đó 279,2 tấn cá và 257,8 tấn tôm giảm lần lượt là 11,73% và 2,05% do ô nhiễm vùng nuôi nên các hộ chuyển đổi nuôi trồng sang các loài khác; riêng sản lượng tôm hùm thu hoạch được 118 tấn, tăng 29,6%.

Diện tích nuôi trồng thủy sản quý I/2017 ước đạt 1.726,6 ha, giảm 6,5% so cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích nuôi tôm nước lợ 862 ha, giảm 20,33% do người nuôi không đầu tư; diện tích nuôi thủy sản khác 677,5 ha, tăng 17,21% chủ yếu tăng diện tích nuôi ốc hương.

3. Sản xuất công nghiệp

Chỉ số sản xuất công nghiệp quý I/2017 tăng 6,3% so cùng kỳ năm trước: Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 6,4%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 22,14%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước tăng 33,49%; riêng ngành công nghiệp khai khoáng giảm 31,99%.

Một số ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có chỉ số sản xuất quý I/2017 tăng cao so cùng kỳ năm trước: Chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa tăng 2,09 lần; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 59,08%; sản xuất đồ uống tăng 41,71%; sản xuất trang phục tăng 23,88%; sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 4,49%. Các ngành có chỉ số sản xuất giảm như: Sản xuất sợi giảm 27,77%; sản xuất chế biến thực phẩm giảm 10,12%; sản xuất sản phẩm thuốc lá giảm 7,81%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế giảm 5,75%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác giảm 3,41%.

Một số sản phẩm có chỉ số sản xuất quý I/2017 tăng so cùng kỳ năm trước: Nước yến tăng 33,33%; bia đóng lon tăng 10,8 lần; bia tươi tăng 8,2 lần; bia hơi tăng 37,22%; mực đông lạnh tăng 4,1 lần; cá khác đông lạnh tăng 15,18%; cá ngừ đông lạnh tăng 10,12%; tôm đông lạnh tăng 6,5%; điện sản xuất tăng 3,2 lần; sản phẩm mây, tre đan các loại tăng 97,12%; bộ quần áo thể thao khác tăng 53,41%; điện thương phẩm tăng 3,38%. Một số sản phẩm có chỉ số giảm như: Sợi tơ tổng hợp giảm 38,71%; đường RS giảm 30,09%; bia đóng chai giảm 25,97%; sợi tự nhiên giảm 18,45%; đường RE giảm 14,13%; thuốc lá có đầu lọc giảm 7,81%; đá xây dựng giảm 4,18%.

Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 02/2017 tăng 23,65% so cùng kỳ năm trước và tăng 2,99% so với tháng trước. Tính chung 02 tháng đầu năm, chỉ số tiêu thụ tăng 0,64% so cùng kỳ năm trước. Các ngành có chỉ số tiêu thụ 02 tháng đầu năm 2017 tăng cao so với cùng kỳ năm trước là: Sản xuất đồ uống tăng 2,1 lần; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa tăng 25,87%; sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 10,54%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 7,87%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 3,63%. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ giảm là: Dệt giảm 58,8%; sản xuất trang phục giảm 14,28%; sản xuất và chế biến thực phẩm giảm 14,21%; sản xuất sản phẩm thuốc lá giảm 10,61%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim khác giảm 7,94%.

4. Đầu tư xây dựng

UBND tỉnh luôn quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi trong việc giải quyết các thủ tục hành chính cũng như tháo gỡ khó khăn vướng mắc cho các chủ đầu tư. Bên cạnh đó tăng cường kiểm tra, giám sát tiến độ thực hiện của các dự án đã được cấp phép, kiên quyết thu hồi giấy chứng nhận đầu tư đối với các dự án thực hiện chậm so với tiến độ đã cam kết. Vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngoài nhà nước tập trung thực hiện ở các công trình xây dựng và đầu tư mua sắm, nâng cấp máy móc thiết bị phục vụ sản xuất kinh doanh.

Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội quý I/2017 ước được 6.925 tỷ đồng, tăng 15,11% so cùng kỳ năm trước: Vốn nhà nước 1.790 tỷ đồng, tăng 15,22%; vốn ngoài nhà nước 4.970 tỷ đồng, tăng 15,06% và vốn đầu tư nước ngoài 165 tỷ đồng, tăng 15,48%. Trong tổng vốn đầu tư phát triển, vốn đầu tư xây dựng cơ bản chiếm tỷ trọng cao nhất 82,67%; vốn đầu tư mua sắm tài sản cố định dùng cho sản xuất không qua xây dựng cơ bản chiếm 9,39%; vốn đầu tư sửa chữa, nâng cấp tài sản cố định chiếm 2,89%; vốn đầu tư bổ sung vốn lưu động chiếm 3,61% và vốn đầu tư khác chiếm 1,44%.

Vốn đầu tư XDCB thuộc nguồn vốn nhà nước tiếp tục thực hiện các công trình chuyển tiếp của năm 2016, các công trình mới trong kế hoạch 2017 đang hoàn tất hồ sơ thiết kế kỹ thuật, dự toán để triển khai trong quý II/2017. Một số công trình có tiến độ thi công với vốn thực hiện khá trong quý I/2017 là: Trường TH Phước Long 2, trường MN Ngọc Hiệp, trường MN Vĩnh Hòa, trường MN Vĩnh Phước, trường MN Vĩnh Lương, trường MN Vĩnh Thạnh, đường Thái Thông - Xuân Sơn, đường Ba Làng, công viên Sứa Biển, kè Núi Sạn, CSHT khu TĐC Hòn Rớ II, CSHT khu dân cư 32-33 Vĩnh Thọ (Nha Trang); trường MN 2/4, trường MG Cam Phú, trường TH Cam Nghĩa 1, trường TH Cam Linh 1 (Cam Ranh); trụ sở làm việc Huyện ủy và UBND huyện, trường MG Vàng Anh, trường THCS A.Yersin (Cam Lâm); trường TH Ninh Thọ (Ninh Hòa); trường TH Vạn Bình 2, trường TH Vạn Lương 3, trường MG Vạn Xuân, trường TH Vạn Hưng 2, trường THCS Hoa Lư, khu TĐC Vạn Lương (Vạn Ninh); trường TH Khánh Phú, trường TH xã Cầu Bà, hội trường Huyện ủy, nhà công vụ Huyện ủy, khu TĐC thôn Bố Lang, khu TĐC thị trấn (Khánh Vĩnh); kè và đường dọc Sông Cái, kè chống sạt lở bờ Bắc, khu dân cư Phú Ân Nam 2 (Diên Khánh); trường MN Vành Khuyên, trường TH Sơn Bình, đường D9, đường Hai Bà Trưng, đường vào khu sản xuất thôn KoRoa, đường vào khu sản xuất thôn Hòn Dung, khu TĐC thôn Dốc Trầu (Khánh Sơn)…

Ước quý I/2017, có 9 công trình khởi công mới với tổng dự toán trên 24,3 tỷ đồng và 15 công trình hoàn thành bàn giao đưa vào sử dụng với tổng vốn đầu tư trên 66,4 tỷ đồng; tạo năng lực mới tăng gồm 2,25 km đường giao thông, 100 m2 nhà làm việc, 260 m2 khối hành chính trường học, 1.420 m2 trường mẫu giáo, 966 chỗ/24 phòng trường học…

5. Thương mại, dịch vụ

a) Tổng mức bán hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng:

Là quý có tết Nguyên đán nên thị trường hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng trên toàn tỉnh quý I/2017 diễn ra khá sôi động. Các doanh nghiệp kinh doanh thương mại dịch vụ trên địa bàn tỉnh liên tục tăng cả về hình thức kinh doanh và chất lượng phục vụ; nguồn cung ứng dồi dào nhiều chủng loại phong phú, mẫu mã hấp dẫn, giá cả phù hợp, các mặt hàng tiêu dùng được sản xuất trong nước tiếp tục chiếm ưu thế hơn so với hàng ngoại nhập, nhiều chương trình khuyến mãi, giảm giá đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của nhân dân, góp phần đưa tổng mức bán hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng trên toàn tỉnh quý I/2017 được 35.468,35 tỷ đồng, tăng 15,22% so cùng kỳ năm trước: Kinh tế nhà nước được 4.906,18 tỷ đồng, tăng 4,96%, trong đó các doanh nghiệp thương mại dịch vụ nhà nước 4.679,28 tỷ đồng, tăng 8,05% chủ yếu tăng mạnh ở lĩnh vực dịch vụ du lịch, riêng xăng dầu được 82.005 tấn giảm 8,03% và thuốc lá được 148,92 triệu bao giảm 11,23%; kinh tế tập thể 19,84 tỷ đồng, tăng 17,47%; kinh tế tư nhân, cá thể và hỗn hợp 30.477,36 tỷ đồng, tăng 17,04% và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 64,96 tỷ đồng, tăng 24,87%.

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng quý I/2017 được 19.855,09 tỷ đồng, tăng 15,24% so cùng kỳ năm trước: Ngành dịch vụ lữ hành 57,98 tỷ đồng, tăng 19,49%; ngành thương nghiệp được 14.378,44 tỷ đồng, tăng 14,75%; ngành dịch vụ lưu trú và ăn uống 3.224,09 tỷ đồng, tăng 17,53% và ngành dịch vụ 2.194,58 tỷ đồng, tăng 15,01%. 

Chi cục quản lý thị trường phối hợp với các ngành chức năng tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh thương mại, dịch vụ và hàng hóa lưu thông các tháng trước, trong và sau tết Nguyên đán. Tích cực kiểm soát tình hình giá cả, ngăn chặn hành vi đầu cơ tích trữ và tự ý tăng giá bất hợp lý, góp phần ổn định sản xuất, đảm bảo đủ nguồn hàng phục vụ nhân dân, giữ gìn môi trường kinh doanh lành mạnh và ổn định tâm lý người tiêu dùng. Trong quý I/2017, đã thực hiện 760 lượt kiểm tra các cơ sở SXKD, phát hiện 315 vụ vi phạm, xử lý hành chính 314 cơ sở vi phạm, thu nộp ngân sách 904,93 triệu đồng.

b) Du lịch:

Nhiều hoạt động văn hóa du lịch đặc sắc, mang đậm bản sắc dân tộc đã được tổ chức trong dịp tết Nguyên đán Đinh Dậu nhằm phục vụ tốt nhu cầu vui chơi, giải trí cho nhân dân và nhiều du khách trong và ngoài nước như: Múa lân sư rồng, tổ chức nấu bánh chưng, bánh tét, tổ chức “Đêm Gala chào đón Giao thừa, chúc Tết du khách”, ca múa nhạc tạp kỹ, lễ hội thả hoa đăng, viết thư pháp, bong bóng nghệ thuật, các trò chơi dân gian như ném lon, đi cầu kiều, bịt mắt đập gáo dừa, đánh đu, chọi gà, các món ăn đặc sản 3 miền như bánh tôm, bánh giò, bánh ướt... đã thu hút lượng khách tham quan, du lịch đến với Nha Trang - Khánh Hòa, góp phần đưa doanh thu du lịch toàn tỉnh quý I/2017 được 3.399,5 tỷ đồng, tăng 36,48% so cùng kỳ năm trước; khách lưu trú được 1.170,94 nghìn lượt người với 3.102,87 nghìn ngày khách, tăng lần lượt là 25,5% và 42,03%, trong đó khách quốc tế 500,91 nghìn lượt khách, tăng 83,87% với 1.731,78 nghìn ngày khách, tăng gấp 2,06 lần, do lượng khách Trung Quốc đến Khánh Hòa tăng mạnh.

c) Xuất, nhập khẩu hàng hóa:

Quý I/2017, trên địa bàn tỉnh đã có 80 DN tham gia xuất khẩu, với kim ngạch xuất khẩu hàng hóa toàn tỉnh được 313,77 triệu USD, tăng 10,95% so cùng kỳ năm trước: Thành phần kinh tế tập thể 423,5 nghìn USD, tăng 0,02%; kinh tế tư nhân được 126,69 triệu USD, tăng 28,98%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 176,47 triệu USD, tăng 3,5%; riêng kinh tế nhà nước được 10,19 triệu USD, giảm 25,35%. Các mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu tăng cao so cùng kỳ năm trước: 4,5 triệu USD máy móc, thiết bị và dụng cụ phụ tùng, tăng gấp 2,0 lần; 52,46 triệu USD hạt điều, tăng 96,24%; 1,8 triệu USD sắn và sản phẩm từ sắn, tăng 76,08%; 52,46 triệu USD cà phê, tăng 44,88%; 20,04 triệu USD hàng dệt may, tăng 12,52%; Một số mặt hàng xuất khẩu có kim ngạch tăng thấp hoặc giảm như: 83,17 triệu USD hải sản các loại, tăng 6,1%; 127,21 triệu USD phương tiện vận tải và phụ tùng tăng 5,16%; 11,78 triệu USD các nhóm hàng hóa khác tăng 4,02%; 1,08 triệu USD hàng thủ công mỹ nghệ, giảm 5,97%; 711 nghìn USD hạt điều, giảm 26,7%; 7,35 triệu USD sản phẩm đồ gỗ, giảm 30,17%; 412 nghìn USD cao su, giảm 41,62%; 2,8 triệu USD gỗ các loại, giảm 71,22%.

Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa quý I/2017 ước được 135,62 triệu USD, giảm 6,33% so cùng kỳ năm trước: Kinh tế nhà nước 15,67 triệu USD, tăng 24,14%; kinh tế tư nhân 45,82 triệu USD, tăng 7,36%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 74,13 triệu USD, giảm 17,15%. Một số mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu tăng cao so cùng kỳ năm trước: 1,2 triệu USD sản phẩm từ kim loại thường khác, tăng gấp 7,86 lần; 5,46 triệu USD gỗ và sản phẩm gỗ, tăng gấp  5 lần; 44,16 triệu USD nguyên liệu hải sản, tăng 58,83%; 13,42 triệu USD sắt thép các loại, tăng 38,33%; 1,69 nguyên phụ liệu dệt, may, da, giày, tăng 26,44%; 114,7 nghìn USD giấy các loại, tăng 14,24%; Một số mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu tăng thấp hoặc giảm như: 1,8 triệu USD thức ăn nuôi tôm, giảm 71,55%; 17,47 triệu USD hàng hóa khác giảm 39,08%; 28 triệu USD máy móc, thiết bị phụ tùng, giảm 38,55%; 279,2 nghìn USD hoá chất, giảm 27,27%; 803,4 nghìn USD thuốc tân dược và nguyên phụ liệu sản xuất tân dược, giảm 18,66%; 5,85 triệu USD vải và phụ liệu may mặc, tăng 4,03%; 13,3 triệu USD nguyên phụ liệu thuốc lá, tăng 9,34%.

6. Giá cả

a) Chỉ số giá tiêu dùng:

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 3/2017 tăng 0,18% so tháng trước. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, có 3 nhóm hàng có chỉ số giá giảm và 4 nhóm hàng có chỉ số tăng so tháng trước, các nhóm hàng có chỉ số giảm như: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 2,62%; thiết bị và đồ dùng gia đình giảm 0,23%; văn hóa, giải trí và du lịch giảm 1,53%. Trong 4 nhóm hàng có chỉ số giá tăng, cao nhất là nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 41,23%, chủ yếu ở nhóm dịch vụ y tế tăng 61,19% do thực hiện mức giá bao gồm cả chi phí tiền lương theo quy định tại khoản 2 Điều 5 Thông tư liên tịch số 37/2015/TTLT-BYT-BTC ngày 29/10/2015 của Bộ Y tế - Bộ Tài chính quy định thống nhất giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế giữa các bệnh viện cùng hạng trên toàn quốc áp dụng từ ngày 01/3/2016 và theo công văn 1367/BYT-KH-TC về việc thực hiện giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế bao gồm cả chi phí tiền lương của một số tỉnh/thành phố vào tháng 3/2017; nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,19%; giao thông tăng 0,23% do Bộ Tài chính điều chỉnh giảm giảm giá xăng vào ngày 6/3/2017 và ngày 21/3/2017 với mức giảm chung của giá xăng là 790 đ/lít, giá dầu diezen tăng 140 đ/lít vào ngày 6/3/2017 và giảm 620 đ/lít vào ngày 21/3/2017 nhưng do cách tính bình quân gia quyền nên chỉ số giá nhóm nhiên liệu tăng 0,96% so với tháng trước; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,01%. Các nhóm hàng hóa và dịch vụ còn lại có chỉ số giá ổn định như: Đồ uống và thuốc lá; may mặc, mũ nón, giày dép; bưu chính viễn thông và giáo dục.

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 03/2017 tăng 1,21% so với tháng 12/2016 và tăng 4,09% so cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 3 tháng đầu năm 2017 tăng 3,83% so với bình quân cùng kỳ năm trước. Một số nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng cao so tháng 12/2016 như: Thuốc và dịch vụ y tế tăng 41,23%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 1,21%; giao thông tăng 5,37%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 1,23%; các nhóm đồ uống và thuốc lá; may mặc, mũ nón, giày, dép; thiết bị và đồ dùng gia đình; hàng hóa và dịch vụ khác có chỉ số giá tăng nhẹ từ 0,02% đến 0,17%; riêng chỉ số giá hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 1,76%; chỉ số giá bưu chính viễn thông; giáo dục ổn định.

Giá bán lẻ bình quân chung một số mặt hàng tháng 3/2017: Gạo tẻ ngon (Gò Công) 16.092 đồng/kg; gạo nếp thường 16.684 đồng/kg; gà mái ta còn sống 94.836 đồng/kg; thịt lợn mông sấn 90.978 đồng/kg; thịt bò bắp 207.668 đồng/kg; trứng vịt 26.797 đồng/10 quả; cá thu khúc giữa 226.469 đồng/kg; dầu ăn Tường An 41.793 đồng/lít; đường trắng kết tinh Khánh Hòa sản xuất 17.674 đồng/kg; sữa Ông Thọ 380g 21.000 đồng/hộp; bột ngọt AJINOMOTO 62.093 đồng/gói; gas đun (bình 12 kg-Shellgas) 350.496 đồng/bình; vàng 99,99% 3.686 nghìn đồng/chỉ; đô la Mỹ 22.837 đồng/USD.

b) Chỉ số giá vàng và đô la Mỹ:

Chỉ số giá vàng tháng 3/2017 tăng 0,3% so tháng trước, do biến động theo giá vàng thế giới; tăng 3,83% so với tháng 12/2016 và tăng 9,26% so cùng tháng năm trước. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 3/2017 giảm 0,19% so tháng trước; giảm 0,42% so tháng 12/2016 và tăng 2,24% so cùng tháng năm trước.

7. Vận tải, bưu chính viễn thông

a) Vận tải:

Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải đường bộ, đường thủy quý I/2017 ước được 1.230,14 tỷ đồng, tăng 11,26% so cùng kỳ năm trước: Vận tải đường bộ được 934,55 tỷ đồng, tăng 11,19%; vận tải đường thủy 50,77 tỷ đồng, tăng 6,81%; vận tải kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải 244,83 tỷ đồng, tăng 12,48%. Trong tổng doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải đường bộ, đường thủy: Kinh tế nhà nước 180,51 tỷ đồng, tăng 72,93%; kinh tế ngoài nhà nước 1.049,63 tỷ đồng, tăng 11,26%.

Vận chuyển hành khách đường bộ và đường thủy quý I/2017 ước được 11.179 nghìn lượt người, tăng 11,59% so cùng kỳ năm trước (đường bộ được 10.684 nghìn lượt người và đường biển được 495 nghìn lượt người, tăng lần lượt là 11,91% và 5,1%); luân chuyển hành khách 602.213 nghìn lượt người.km, tăng 12,39% (đường bộ 597.362 nghìn lượt người.km và đường biển 4.851 nghìn lượt người.km tăng lần lượt là 12,44% và 5,96%).

Vận chuyển hàng hóa đường bộ và đường thủy quý I/2017 ước được 8.137,2 nghìn tấn, tăng 10,58% so cùng kỳ năm trước (đường bộ được 8.058,2 nghìn tấn và đường biển được 79 nghìn tấn, tăng lần lượt là 10,59% và 9,72%); luân chuyển hàng hóa 803.252 nghìn tấn.km, tăng 12,7% (đường bộ 649.965 nghìn tấn.km và đường biển 153.287 nghìn tấn.km tăng lần lượt là 13,23% và 10,51%).

Doanh thu vận chuyển đường sắt quý I/2017 ước được 64,33 tỷ đồng, tăng 15,74% so cùng kỳ năm trước: Vận chuyển hành khách 61,92 tỷ đồng, tăng 15,68%; vận chuyển hàng hóa 2,41 tỷ đồng, tăng 17,39%. Vận chuyển hành khách đường sắt được 188.631 lượt người, tăng 12,28%; luân chuyển hành khách 77.354,61 nghìn lượt người.km, tăng 11,06%; vận chuyển hàng hóa 3.635 tấn, tăng 18,4%; luân chuyển hàng hóa 4.026,35 nghìn tấn.km, tăng 19,95%.

Từ ngày 16/02/2017 đến 15/3/2017, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 9 vụ tai nạn và va chạm giao thông đường bộ làm chết 7 người, bị thương 03 người. Tính chung 3 tháng đầu năm 2017 (từ ngày 16/12/2016 đến ngày 15/3/2017) trên địa bàn tỉnh xảy ra 30 vụ tai nạn và va chạm giao thông đường bộ làm chết 24 người, bị thương 15 người. Tai nạn giao thông đường sắt xảy ra 04 vụ, chết 03 người, bị thương 01 người. So cùng kỳ năm trước số vụ tai nạn và va chạm giao thông đường bộ giảm 13 vụ, số người chết giảm 20 người, bị thương giảm 01 người. Về số vụ tai nạn đường sắt tăng 02 vụ so cùng kỳ năm trước; số người chết tăng 01 người; bị thương tăng 01 người.

b) Bưu chính viễn thông:

Số thuê bao điện thoại phát triển mới quý I/2017 là 3.381 thuê bao, nâng tổng số thuê bao điện thoại trên toàn tỉnh đến nay là 171.710 thuê bao: 85.628 thuê bao cố định và 86.082 thuê bao di động trả sau. Tổng doanh thu bưu chính viễn thông quý I/2017 ước được 396,45 tỷ đồng, tăng 17,69% so cùng kỳ năm trước; 14,6 nghìn bưu kiện đi có cước; 27,73 nghìn bức thư và điện chuyển tiền, tăng lần lượt là 22,69% và 15,84%; phát hành báo chí được 5.322 nghìn tờ, cuốn, tăng 19,06%.

8. Tài chính, ngân hàng

a) Tài chính:

Tổng thu ngân sách nhà nước quý I/2017 ước được 4.493,49 tỷ đồng, tăng 12,11% so cùng kỳ năm trước: Thu từ hoạt động xuất nhập khẩu 1.561,29 tỷ đồng, tăng 70,26%; thu nội địa 2.932,2 tỷ đồng, giảm 5,14%. Trong tổng thu nội địa có các khoản thu tăng cao so cùng kỳ năm trước: Thu thuế sử dụng đất nông nghiệp 118 triệu đồng, tăng gấp 9 lần; thu tiền bán và thuê nhà thuộc sở hữu nhà nước 7,4 tỷ đồng, tăng gấp 7,07 lần; thu tiền sử dụng đất 179,96 tỷ đồng, tăng 86,97%; thu phí và lệ phí 135,35 tỷ đồng, tăng 75,95%; thu khác ngân sách và thu ngân sách xã 57,53 tỷ đồng, tăng 56%; thu thuế thu nhập cá nhân 230,17 tỷ đồng, tăng 42,4%; thu thuế sử dụng đất phi nông nghiệp 2 tỷ đồng, tăng 30,89%; thu thuế bảo vệ môi trường 159,96 tỷ đồng, tăng 19,22%. Các khoản thu tăng thấp hoặc giảm: Thu lệ phí trước bạ 79,99 tỷ đồng, tăng 5,9%; thu xổ số kiến thiết 63,53 tỷ đồng, giảm 6,02%; thu từ doanh nghiệp nhà nước trung ương 114,99 tỷ đồng, giảm 8,64%; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 90,03 tỷ đồng, giảm 14,89%; thu từ doanh nghiệp nhà nước địa phương 754,71 tỷ đồng, giảm 16,71%; thu từ khu vực công thương nghiệp ngoài quốc doanh 835,54 tỷ đồng, giảm 15,87%; thu cổ tức và lợi nhuận sau thuế 130,98 tỷ đồng, giảm 23,7%; thu tiền cho thuê mặt đất, mặt nước 84.97 tỷ đồng, giảm 33,48%; thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản 4,99 tỷ đồng, giảm 45,1%.

Tổng chi ngân sách nhà nước địa phương quý I/2017 ước được 2.416,09 tỷ đồng, bằng 24,49% dự toán, trong đó chi đầu tư phát triển được 1.195,28 tỷ đồng, bằng 34,85% (riêng chi đầu tư xây dựng cơ bản 288,06 tỷ đồng, bằng 20,07%); chi thường xuyên 1.219,24 tỷ đồng, bằng 21,36%, với các khoản chi như: Chi sự nghiệp kinh tế 132,67 tỷ đồng, bằng 17,37%; chi sự nghiệp văn xã 741,38 tỷ đồng, bằng 22,12%; chi quản lý hành chính 249,58 tỷ đồng, bằng 22,78%; chi quốc phòng an ninh 55,8 tỷ đồng, bằng 31,93%; chi khác ngân sách 39,81 tỷ đồng, bằng 12,45%. So cùng kỳ năm trước, tổng chi ngân sách nhà nước địa phương giảm 26,77%, trong đó chi đầu tư phát triển giảm 18,77%; chi thường xuyên tăng 15,43%.

b) Ngân hàng:   

Đến ngày 15/3/2017, trên địa bàn tỉnh có 37 chi nhánh TCTD và 04 Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở với 156 điểm giao dịch ngân hàng; 314 máy ATM; riêng Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ngân hàng Chính sách Xã hội có điểm giao dịch tới tận các xã, đáp ứng kịp thời nhu cầu giao dịch ngân hàng của người dân, doanh nghiệp. Lãi suất huy động VND kỳ hạn dưới 1 tháng là 0,3%-1%/năm; lãi suất kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng là 4,3%-5,5%/năm; lãi suất kỳ hạn từ 6 tháng đến dưới 12 tháng là 5,3%-6,8%/năm; đối với kỳ hạn từ 12 tháng trở lên là 6,5%-7,6/năm; lãi suất cho vay ngắn hạn bằng VND áp dụng cho các đối tượng ưu tiên là 4,8%-7%/năm và trung dài hạn 7%-10,5%/năm; lãi suất cho vay sản xuất, kinh doanh khác của khối NHTM Nhà nước ngắn hạn ở mức 7,5%-9,5%/năm; trung và dài hạn ở mức 10%-11,5%/năm; khối NHTM cổ phần ngắn hạn ở mức 8,5%-11%/năm; trung và dài hạn ở mức 9,5%-11,5%/năm; lãi suất cho vay USD ở mức 2,8%-5%/năm đối với ngắn hạn; 3,3%-6%/năm đối với trung và dài hạn.

Các Chi nhánh TCTD đã chủ động đáp ứng kịp thời các nhu cầu vay vốn sản xuất kinh doanh hàng hóa phục vụ Tết với lãi suất và các điều kiện ưu đãi, góp phần bình ổn thị trường dịp tết Nguyên Đán Đinh Dậu 2017. Đồng thời, cân đối nguồn vốn cho vay các nhu cầu vốn của khách hàng, thực hiện tốt các chương trình kinh tế, mặt bằng lãi suất ổn định tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng tiếp cận vốn ngân hàng. Đến cuối tháng 3/2017, huy động vốn toàn tỉnh ước được 64.300 tỷ đồng, tăng 16,22% so với cùng kỳ năm trước: Huy động bằng VND 62.420 tỷ đồng, tăng 17,27%; huy động bằng ngoại tệ 1.880 tỷ đồng, giảm 10,43%; dư nợ cho vay ước được 53.350 tỷ đồng, tăng 22,48%: Dư nợ bằng đồng VN 48.790 tỷ đồng, tăng 23,15%; dư nợ bằng ngoại tệ 4.560 tỷ đồng, tăng 15,77%. Trước, trong và sau Tết, kho quỹ của Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước và các Chi nhánh TCTD được bảo đảm an toàn tuyệt đối. Các nhu cầu nộp, rút tiền mặt, thanh toán của khách hàng được đáp ứng kịp thời.

9. Văn hóa, xã hội

a) Giáo dục:

Hệ thống cơ sở giáo dục các cấp học, ngành học được phân bổ rộng trên phạm vi toàn tỉnh, đáp ứng nhu cầu học tập của học sinh. Toàn tỉnh hiện có 179 trường mầm non; 15 trường mẫu giáo; 186 trường tiểu học; 111 trường trung học cơ sở; 8 trường phổ thông cơ sở; 33 trường trung học phổ thông... Sơ kết học kỳ 1 năm học 2016-2017, ngành Giáo dục và Đào tạo Khánh Hòa đã đạt được những thành quả nhất định: Công tác phổ cập giáo dục cho trẻ 5 tuổi tiếp tục được duy trì và giữ vững; tỷ lệ huy động học sinh ra lớp ngày càng cao; chất lượng giáo dục các cấp được tăng lên; cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy và học được đầu tư thích đáng. Sở đã tổ chức Hội thi Giáo viên tiểu học dạy giỏi cấp tỉnh năm học 2016-2017, kết quả 66/66 giáo viên đạt danh hiệu giáo viên tiểu học dạy giỏi cấp tỉnh, trong đó có 19 giáo viên xuất sắc được Giám đốc Sở tặng giấy khen. Tham gia Cuộc thi Khoa học, kỹ thuật cấp quốc gia giành cho học sinh trung học năm 2017 các tỉnh phía Nam. Kỳ thi học sinh giỏi lớp 12 cấp quốc gia năm học 2016-2017, Khánh Hòa có 15/64 thí sinh đạt giải (5 giải Ba và 10 giải Khuyến khích). Đã tổ chức kỳ thi học sinh giỏi giải Toán bằng máy tính cầm tay cấp tỉnh cho các bộ môn Toán, Vật lý, Hóa học, Sinh học; kết quả có 127/348 học sinh đạt giải (6 giải Nhất, 20 giải Nhì, 31 giải Ba, 70 giải Khuyến khích).

 b) Y tế:

 Ngành Y tế tiếp tục tăng cường tuyên truyền đến các cơ sở y tế tuyến huyện, đẩy mạnh công tác phòng chống dịch bệnh, giám sát tả, dịch cúm A/H1N1, cúm A/H5N1 và đặc biệt là cúm A/H7N9, sốt xuất huyết, bệnh do virút Zika, sởi, rubella, bệnh Tay-Chân-Miệng, thủy đậu… Quý I/2017, ngành Y tế đã khám chữa bệnh cho 846,95 nghìn lượt người; điều trị nội trú 49,31 nghìn lượt người; phẫu thuật 5.189 lượt người; ghi nhận 24 ca sốt rét; 258 ca Tay-Chân-Miệng; 713 ca sốt xuất huyết; 01 ca virút Zika; 129 ca có biểu hiện rối loạn tiêu hóa sau khi ăn. Đã thực hiện tiêm đủ liều cho 3.785 trẻ dưới 1 tuổi; tiêm sởi mũi 2 cho 3.791 trẻ em 18 tháng tuổi; tiêm UV2+ cho 3.677 phụ nữ có thai; tiêm UV2 và UV2+ cho 455 phụ nữ 15-35.

Đã phát hiện thêm 9 trường hợp nhiễm HIV, nâng tổng số người nhiễm HIV đến nay là 3.452 người, trong đó 2.131 trường hợp đã chuyển sang giai đoạn AIDS; 1.212 người chết do AIDS.

c) Văn hóa, thể thao:

 Ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã triển khai tổ chức nhiều hoạt động văn hóa, nghệ thuật kỷ niệm 87 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, 87 năm ngày thành lập Đảng bộ Khánh Hòa, mừng Đảng - mừng Xuân Đinh Dậu năm 2017,... Trung tâm Điện ảnh tỉnh tổ chức chiếu phim lưu động với 278 buổi chiếu phim phục vụ đồng bào các dân tộc miền núi, hải đảo, vùng sâu, vùng xa với 52,86 nghìn lượt người xem; Trung tâm Văn hóa đã tổ chức trưng bày triển lãm ảnh phục vụ Hội nghị APEC 2017, ngày “Thơ Việt Nam”; Nhà hát Nghệ thuật truyền thống và Đoàn ca múa nhạc Hải Đăng đã biểu diễn nghệ thuật với 118 buổi; Bảo tàng tỉnh đã tổ chức tuyên truyền tìm hiểu Di sản văn hóa năm 2017, tổ chức Lễ Giổ tại các di tích: Mộ Yersin và Tàu Không số C325 (đường Hồ Chí Minh trên biển), xây dựng bia các di tích đã được xếp hạng năm 2017, phục vụ tham quan và nhu cầu tín ngưỡng của 720 nghìn nhân dân và du khách; Thư viện tỉnh phục vụ 31.461 lượt độc giả, luân chuyển sách báo tại chỗ 110.081 lượt; thực hiện cấp phát gia hạn 308 thẻ.

Về thể thao thành tích cao đã tham gia tập luyện và thi đấu các giải: Giải việt dã “Chinh phục đỉnh cao Bà Rá” tại tỉnh Bình Phước, kết quả xếp thứ ba toàn đoàn với 02 bộ huy chương (01 bạc, 01 đồng); thi đấu vòng loại bóng đá U19 quốc gia, xếp nhất bảng; giải vô địch Taekwondo học sinh toàn quốc tại thành phố Huế, đạt 18 bộ huy chương (10 vàng, 04 bạc, 04 đồng); giải việt dã Báo Tiền Phong tại tỉnh Ninh Bình; giải bóng chuyền vô địch toàn quốc tại tỉnh Nam Định; giải Cúp các câu lạc bộ Kick-boxing toàn quốc tại tỉnh Bình Phước; giải vô địch thanh thiếu niên quốc gia tại tỉnh Bắc Ninh.

Tóm lại: Năm 2017 là năm có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc đẩy mạnh thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm, giai đoạn 2016 - 2020. Thực hiện các Nghị quyết của Chính phủ, HĐND và UBND tỉnh đã ban hành nhiều văn bản cụ thể hóa các Nghị quyết của Chính phủ, tập trung chỉ đạo các ngành, các cấp đẩy mạnh cải cách hành chính, tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp. Nhờ đó, kinh tế xã hội của tỉnh trong quý I/2017 tiếp tục phát triển, nhiều chỉ tiêu kinh tế tăng khá so cùng kỳ năm trước: Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) theo giá so sánh năm 2010 tăng 6,72%; chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 6,3%; tổng mức bán hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng tăng 15,22%; tổng thu ngân sách tăng 12,11%; vốn đầu tư phát triển toàn xã hội tăng 15,11%; doanh thu du lịch tăng 36,48%; khách du lịch quốc tế tăng 83,87%; chỉ số giá tiêu dùng tăng ở mức thấp 1,21% so tháng 12 năm trước... Các lĩnh vực văn hóa, xã hội, môi trường được quan tâm, thông tin truyền thông, văn hóa thể thao tiếp tục được chú trọng. Công tác đền ơn đáp nghĩa, hỗ trợ người nghèo và đồng bào dân tộc thiểu số được quan tâm đúng mức góp phần ổn định và nâng cao đời sống nhân dân. Cải cách hành chính, giải quyết khiếu nại, tố cáo, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí được đẩy mạnh. An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Tổ chức Tết Đinh Dậu năm 2017 an toàn, tiết kiệm và phối hợp tổ chức Hội nghị APEC năm 2017 diễn ra thành công và an toàn.

Bên cạnh những thành tích đạt được, các Sở, ban, ngành cần tăng cường các biện pháp phòng chống dịch bệnh cho người và gia súc gia cầm và đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án trọng điểm của tỉnh cùng với đó tăng cường kiểm tra, đôn đốc, xử lý vi phạm tiến độ thực hiện các dự án đầu tư ngoài ngân sách, giải quyết vướng mắc cho các nhà đầu tư để dự án sớm triển khai thực hiện dự án để sớm hoàn thành đưa vào sử dụng; đẩy mạnh thực hiện công tác chống thất thu và thu hồi nợ thuế, đồng thời tháo gỡ vướng mắc kịp thời và hỗ trợ cho doanh nghiệp đầu tư, phát triển hoạt động sản xuất, kinh doanh; cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh; nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh của tỉnh và tích cực thực hiện tốt các Nghị quyết của Chính phủ./.




Các bài mới nhất


THÔNG TIN MỚI

UBND tỉnh Khánh Hòa tổ chức Hội nghị phổ biến Luật Thống kê

Nghị định số 94/2016/NĐ-CP của Chính phủ : Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thống kê

Nghị định số 95/2016/NĐ-CP của Chính phủ : Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thống kê

Nghị định số 97/2016/NĐ-CP của Chính phủ : Quy định nội dung chỉ tiêu thống kê thuộc hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia

Tình hình kinh tế xã hội tháng 6 năm 2016

Tờ gấp Khánh Hòa
Kinh tế xã hội năm 2015

Quyết định số 1692/QĐ-UBND ngày 14/6/2016 của UBND tỉnh Khánh Hòa "Về việc ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật Thống kê trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa"

Quy trình kiểm tra, giám sát thực hiện phương án điều tra thống kê và chế độ báo cáo thống kê

GIÁ VÀNG SJC
ĐVT: ngàn đồng/lượng
Giá mua vào Giá bán ra
Label Label
Cập nhật vào lúc Label
TỶ GIÁ NGOẠI TỆ
ĐVT: đồng
Mã NT Giá mua Giá bán
LabelLabelLabel
Cập nhật vào lúc Label
 LIÊN KẾT WEBSITE