Chỉ số giá tiêu dùng toàn quốc

TÌNH HÌNH KINH TẾ XÃ HỘI NĂM 2016
Tình hình kinh tế xã hội | Tình hình kinh tế xã hội

Tốc độ phát triển một số chỉ tiêu Kinh tế chủ yếu tỉnh Khánh Hòa
và cả năm 2016 so với năm trước

 (%)

Một số chỉ tiêu kinh tế chủ yếu

Năm 2016 so với năm trước

Chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp

107,50

Vốn đầu tư ngân sách nhà nước thực hiện

113,92

Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

115,00

Tổng kim ngạch xuất khẩu

107,75

Tổng kim ngạch nhập khẩu

102,27

Doanh thu du lịch

116,43

Khách quốc tế đến Khánh Hòa

122,27

Chỉ số giá tiêu dùng

103,02

Chỉ số giá vàng

108,34

Chỉ số giá đô la Mỹ

101,28

 

Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ sốgiá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ
Tháng 12 năm 2016

 

Chỉ số giá tháng 12/2016 so với (%)

Bình 
năm 2016 so
cùng
kỳ

Kỳ gốc 2009

Cùng tháng năm trước

Tháng 12 năm trước

Tháng trước

Chỉ số giá tiêu dùng

103,70

103,02

103,02

100,51

101,56

I. Hàng ăn và dịch vụ ăn uống

107,28

104,03

104,03

101,29

101,97

   Trong đó:  1- Lương thực

101,55

103,94

103,94

100,00

103,05

                    2- Thực phẩm

112,10

106,25

106,25

102,28

102,52

                    3- Ăn uống ngoài gia đình

101,12

100,09

100,09

100,00

100,57

II. Đồ uống và thuốc lá

106,12

103,91

103,91

100,62

103,92

III. May mặc, mũ nón, giầy dép

102,84

100,89

100,89

100,35

100,54

IV. Nhà ở, điện, nuớc, chất đốt,VLXD

105,35

103,72

103,72

100,05

103,58

V. Thiết bị và đồ dùng gia đình

101,13

100,23

100,23

100,09

100,26

VI. Thuốc và dịch vụ y tế

110,10

110,48

110,48

100,00

108,67

VII. Giao thông

82,18

98,86

98,86

99,00

92,41

VIII. Bưu chính viễn thông

98,44

100,00

100,00

100,00

100,00

IX. Giáo dục

109,76

103,77

103,77

100,00

103,11

X. Văn hoá, giải trí và du lịch

101,99

100,04

100,04

99,89

100,96

XI. Hàng hoá và dịch vụ khác

104,12

102,91

102,91

100,01

102,44

Chỉ số giá vàng

100,15

108,34

108,34

100,22

101,43

Chỉ số giá đô la Mỹ

107,96

101,28

101,28

102,46

101,62

 

Giá Bán Lẻ Hàng Hóa tháng 12 năm 2016

DANH MỤC HÀNG HÓA

ĐVT

THÁNG 12/2016

THÁNG 12/2015

Gạo tẻ thường ( ML 202)

đ/kg

9.898

9.398

Gạo tẻ ngon ( Gò Công)

đ/kg

16.092

15.592

Gạo nếp thường

đ/kg

16.684

15.782

Sắn tươi

đ/kg

7.607

7.607

Thịt lợn mông sắn

đ/kg

90.978

85.918

Thịt bò bắp

đ/kg

204.708

203.674

Gà mái ta còn sống  1.5 kg/con

đ/kg

94.836

85.361

Trứng vịt loại vừa

Đồng /10 quả

31.454

26.504

Dầu ăn Tường An 1 lít

đ/lít

41.793

41.793

Đậu xanh hạt loại 1

đ/kg

34.231

34.231

Đậu nành

đ/kg

17.559

17.559

Đậu phụng loại 1

đ/kg

43.729

43.729

Cá thu khúc giữa

đ/kg

241.637

221.965

Muối hạt

đ/kg

2.789

2.789

Nước mắm cá cơm 15 độ đạm

đ/lít

23.389

23.389

Bột ngọt Ạinomoto gói 454 g

đ/kg

62.093

62.093

Sữa đặt có đường hiệu Ông Thọ

đ/hộp

21.000

21.000

Nước khoáng VIKODA 500ml

đ/lít

7.975

7.975

Bia hơi Win – San Migue

đ/lít

7.391

7.391

Thuốc lá White Hore Khánh Hòa

đ/bao

21.000

21.000

Đường trắng kết tinh Khánh Hòa

đ/kg

18.175

16.672

Giấy kẻ ngang 20 tờ/tập

đ/tập

5.378

5.378

Vitamin B1 – 100mg. lọ 100 viên

đ/100viên

6.188

6.188

Xi măng đen PC40 Hoàng Thạch

đ/kg

1.736

1.736

Gạch xây ( gạch ống Tuynen)

đ/viên

907

907

Dầu hỏa

đ/lít

11.328

12.687

Xăng A92

đ/lít

16.887

17.285

Điện sinh hoạt

đ/kwh

1.922

1.915

Gas đun ( bình 12kg-Shellgas)

đ/kg

25.569

26.271

Nước máy

đ/m3

5.373

5.360

Vàng 99.99%

Nghìn đ/chỉ

3.602

3.325

Đô la Mỹ

đ/USD

22.933

22.645

 

BÁO CÁO

Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Khánh Hòa năm 2016

                                                   

Năm 2016, trong bối cảnh kinh tế thế giới phục hồi chậm, dự báo tăng trưởng kinh tế và thương mại toàn cầu giảm, giá một số hàng hóa cơ bản và dầu thô ở mức thấp là những yếu tố tác động tới kinh tế - xã hội của cả nước. Ở Khánh Hòa do tác động của biến đổi khí hậu, nắng nóng kéo dài, bão lũ xuất hiện ở hai tháng cuối năm ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp và đời sống nhân dân tỉnh Khánh Hòa. Trước tình hình đó, Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh đã tổ chức quán triệt đến các cấp, các ngành, các DN về Nghị quyết 01/NQ-CP ngày 07 tháng 01 năm 2016 của Chính phủ “về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách Nhà nước năm 2016”. Đồng thời, ban hành hàng loạt các Nghị quyết để chỉ đạo, giải quyết những vấn đề cấp bách, khắc phục khó khăn, thúc đẩy phát triển kinh tế, ổn định đời sống nhân dân, bảo vệ môi trường sinh thái như: Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 16/5/2016 của Chính phủ về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp đến năm 2020; Nghị quyết của Tỉnh ủy về nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2016, Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2016; Quyết định số 831/QĐ-UBND về Phương án phòng, chống hạn và xâm nhập mặn năm 2016 trên địa bàn tỉnh; cùng với sự nỗ lực của các doanh nghiệp và nhân dân toàn tỉnh. Nhờ đó kinh tế - xã hội của tỉnh tiếp tục phát triển ổn định.

1. Tăng trưởng kinh tế

Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) ước năm 2016 (giá so sánh 2010) được 42.291,16 tỷ đồng, tăng 9,31% so năm 2015; GRDP phân theo ngành kinh tế được 34.448,57 tỷ đồng, tăng 7,48%, trong đó: khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,69%; công nghiệp - xây dựng tăng 8,82% (ngành công nghiệp tăng 8,4%, trong đó ngành công nghiệp chế biến, chế tạo với mức tăng 8,92%, góp phần quan trọng vào mức tăng trưởng chung; ngành xây dựng tăng 11%); khu vực dịch vụ tăng 7,69%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 18,18%.

Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) giá thực tế năm 2016 được 57.032,97 tỷ đồng. Về cơ cấu kinh tế: Khu vực I (Nông, lâm nghiệp và thủy sản) chiếm tỷ trọng 11,42%/GRDP, khu vực II (Công nghiệp và xây dựng) chiếm tỷ trọng 31,36% và khu vực III (Dịch vụ) chiếm tỷ trọng lớn nhất 39,22%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm tỷ trọng 18%. Điều này thể hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh diễn ra theo hướng tích cực và phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế mà tỉnh đã đề ra.

2. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

a) Nông nghiệp:

Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản năm 2016 (giá so sánh 2010) được 9.881,5 tỷ đồng, tăng 2,8% so năm 2015, trong đó GTSX nông nghiệp 4.188,6 tỷ đồng, tăng 2,25%; GTSX thủy sản 5.645,2 tỷ đồng tăng 3,21%.

Nhằm chủ động ứng phó với diễn biến thất thường của thời tiết, UBND tỉnh đã chỉ đạo các Sở, ban, ngành tăng cường tuyên truyền, khuyến khích nông dân sử dụng giống đảm bảo chất lượng, xuống giống theo lịch thời vụ của từng địa phương, vệ sinh đồng ruộng, diệt trừ sâu bệnh,... đồng thời thường xuyên theo dõi, cập nhật tình hình thời tiết, bố trí cơ cấu cây trồng hợp lý, kiểm tra sửa chữa các công trình hư hỏng, có kế hoạch nạo vét hệ thống kênh mương, trạm bơm nước, sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả, chủ động trong sản xuất.

Năm 2016, tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm được 79.501 ha bằng 97,65% KH, trong đó cây lương thực có hạt 46.385,2 ha, bằng 95,13%; cây chất bột có củ 5.942,8 ha, bằng 93,51%; cây thực phẩm 6.500,7 ha, bằng 105,1%; cây công nghiệp hàng năm 19.839,8 ha, bằng 98,63%. So với năm 2015, tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm tăng 6,7%, trong đó cây lương thực có hạt tăng 14,89%, cây thực phẩm tăng 2,52%, cây chất bột có củ giảm 5,32%, cây công nghiệp hàng năm giảm 3,94%. Về sản lượng, nhiều loại cây trồng có sản lượng tăng so năm 2015: Sản lượng lương thực có hạt 245,5 nghìn tấn, tăng 15,42% (lúa 230,46 nghìn tấn, tăng 15,36%; ngô 15 nghìn tấn, tăng 16,28%); lạc (đậu phộng) 1,12 nghìn tấn, tăng 19,9%; các loại cây trồng có sản lượng giảm: Sản lượng sắn 89,78 nghìn tấn, giảm 16,73%; mía 827,24 nghìn tấn, giảm 11,5%; thuốc lá 312 tấn, giảm 2,06%. Trong khi đó, một số cây công nghiệp lâu năm và cây ăn quả đạt sản lượng khá do diện tích đến kỳ cho sản phẩm tăng: Sản lượng hồ tiêu đạt 86,19 tấn, tăng 23,38% so năm 2015; cà phê đạt 962,12 tấn, tăng 15,46%; chôm chôm 545,32 tấn, tăng 9,09%; quýt 88,05 tấn, tăng 8,66%; sầu riêng 3.125,13 tấn, tăng 5,76%.

Trong năm, công tác phòng chống dịch bệnh ở đàn gia súc, gia cầm được giám sát chặt chẽ, ngành Thú y quan tâm thường xuyên đến việc tiêm phòng vắcxin, vệ sinh tiêu độc môi trường, chuồng trại; đồng thời phối hợp với các đơn vị chức năng tăng cường kiểm tra việc vận chuyển, giết mổ trên địa bàn; giám sát tình hình sử dụng chất cấm trong chăn nuôi. Theo kết quả điều tra 01/10/2016 toàn tỉnh có 4.346 con trâu, giảm 5,32% so thời điểm 01/10/2015; 84.852 con bò, tăng 15,87%; 178.575 con lợn, tăng 32,94%; 2.716,5 nghìn con gia cầm, tăng 0,63%.

b) Lâm nghiệp:

Giá trị sản xuất lâm nghiệp năm 2016 (giá so sánh 2010) ước được 47,7 tỷ đồng, tăng 3,79% so năm 2015. Diện tích rừng trồng mới tập trung năm 2016 được 1.340 ha, tăng 18,71% so năm 2015; diện tích rừng trồng được chăm sóc 6.304 ha, tăng 18,36%; sản lượng khai thác gỗ từ rừng trồng được 33.849 m3, tăng 18,78%. Thực hiện Chỉ thị số 10/CT-TTg ngày 30/3/2016 của Thủ tướng chính phủ về việc tăng cường các biện pháp cấp bách phòng cháy, chữa cháy rừng, UBND tỉnh đã chỉ đạo các đơn vị có liên quan tập trung chủ động thực hiện có hiệu quả phương án phòng cháy, chữa cháy rừng trên địa bàn tỉnh; thường xuyên chỉ đạo lực lượng canh phòng, kiểm soát chặt chẽ khu vực có nguy cơ cháy cao; tuyên truyền nâng cao ý thức, trách nhiệm của người dân trong việc bảo vệ và phát triển rừng nên từ đầu năm đến nay trên địa bàn tỉnh chưa xảy ra cháy rừng. Từ ngày 01/01/2016 đến ngày 15/12/2016 lực lượng kiểm lâm đã phát hiện 458 vụ vi phạm luật bảo vệ và phát triển rừng, xử lý 445 vụ, tịch thu 968 m3 gỗ các loại, thu nộp ngân sách 6.720,4 triệu đồng.

c) Thủy sản:

Giá trị sản xuất thủy sản năm 2016 (giá so sánh 2010) đạt 5.645,2 tỷ đồng, tăng 3,21% so năm 2015, chủ yếu do tăng giá trị đánh bắt thủy sản. Giá cả các mặt hàng thủy sản tương đối ổn định, các ngành chức năng đã hỗ trợ ngư dân đầu tư máy móc, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trong khai thác, bảo quản cá ngừ đại dương theo công nghệ Nhật Bản nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm đánh bắt nên sản lượng khai thác thủy sản năm 2016 được 93.049,4 tấn, tăng 4,32%, trong đó khai thác cá ngừ đại dương được 3.472,4 tấn, tăng 6,8%. Về thu hoạch thủy sản nuôi trồng năm 2016 được 13.067,4 tấn, giảm 4,75% so năm 2015, trong đó 265 tấn tôm sú, giảm 10,7%; 4.799,4 tấn tôm thẻ chân trắng, giảm 12,8%; 708 tấn tôm hùm, giảm 1,7%; riêng ốc hương 2.689,3 tấn, tăng 13,6%.

Diện tích nuôi trồng thủy sản năm 2016 ước thực hiện được 5.028,6 ha, giảm 3,7% so năm 2015, trong đó diện tích nuôi tôm sú 229 ha, giảm 3,9%; tôm thẻ chân trắng 2.155 ha, giảm 10,6% do thời tiết trong những tháng đầu năm nắng nóng kéo dài, độ mặn tăng cao, tôm dễ bị sốc nhiệt, dễ bị dịch bệnh, những tháng cuối năm mưa nhiều môi trường nuôi thay đổi nên người dân không mạnh dạn đầu tư thả nuôi mà chuyển sang nuôi ốc hương vì giá ốc hương ổn định ở mức cao và ít xảy ra dịch bệnh.

3. Sản xuất công nghiệp

Ngành công nghiệp tỉnh đã thực hiện tốt các chính sách hỗ trợ ưu đãi, tạo môi trường đầu tư thuận lợi; tiếp tục triển khai xây dựng các khu, cụm công nghiệp đã quy hoạch như: cụm công nghiệp Trảng É, Sông Cầu, Tân Lập, Cam Phúc Bắc nhằm tạo điều kiện kinh doanh cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa có mặt bằng sản xuất ổn định và được hưởng các chính sách ưu đãi theo quy định của pháp luật; khuyến khích tăng cường liên kết, hợp tác giữa doanh nghiệp nhằm thúc đẩy chuyển giao công nghệ, mở rộng thị trường tiêu thụ. Bên cạnh đó, các cơ sở sản xuất công nghiệp đã chủ động khắc phục khó khăn về vốn, nguyên liệu, duy trì sản xuất ổn định.

Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) năm 2016 tăng 7,5% so năm 2015: Công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 8,05%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước tăng 15,31%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 5,67%; riêng công nghiệp khai khoáng giảm 22,65%;

Trong ngành công nghiệp chế biến chế tạo, một số ngành có chỉ số sản xuất năm 2016 tăng cao so với năm 2015: Sản xuất đồ uống tăng 31,79%; sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 8,96%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 7,03%. Một số ngành có mức tăng thấp hoặc giảm: Sản xuất chế biến thực phẩm tăng 5,55%; sản xuất trang phục tăng 2,64%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 0,63%; sản xuất sản phẩm thuốc lá giảm 0,65%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic giảm 9,39%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa giảm 9,63%; dệt giảm 11,84%.

Một số sản phẩm có chỉ số sản xuất tăng khá so năm 2015 như: Các sản phẩm bằng vật liệu tết bện khác tăng gấp 2,38 lần; cá khác và bộ phận của cá đóng hộp tăng gấp 2,2 lần; điện sản xuất tăng 55,9%; nước yến và nước bổ dưỡng khác tăng 34,76%; bàn bằng gỗ các loại tăng 30,64%; đường RE tăng 28,48%; cá ngừ đông lạnh tăng 25,26%; bia hơi tăng 23,65%; tôm đông lạnh tăng 10,9%; điện thương phẩm tăng 9,3%; tàu thuyền tăng 8,96%; bia đóng lon tăng 8,83%. Một số sản phẩm có chỉ số giảm so năm 2015 như: Sợi tổng hợp giảm 6,75%; sợi tự nhiên giảm 15,7%; bia đóng chai giảm 17,14%; đường RS giảm 19,74%; mực đông lạnh giảm 35,03%.  

11 tháng năm 2016, chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 0,77% so cùng kỳ năm trước. Các ngành có chỉ số tiêu thụ tăng như: Sản xuất đồ uống tăng 24,87%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa tăng 20,36%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 9,98%; sản xuất trang phục tăng 8,14%. Các ngành có chỉ số tiêu thụ giảm như: Sản xuất phương tiện vận tải khác giảm 0,03%; sản xuất chế biến thực phẩm giảm 0,11%; sản xuất sản phẩm thuốc lá giảm 2,64%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim khác giảm 4,28%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic giảm 15,59%; dệt giảm 16,42%.

4. Đầu tư, xây dựng

Năm 2016, trên địa bàn tỉnh có thêm 07 dự án đầu tư nước ngoài được cấp giấy phép: Dự án Liên doanh giữa công ty TNHH MTV Phát triển trang phục kiểu Pháp và công ty TNHH Sunbo Hồng Kông chuyên sản xuất cúp áo ngực; công ty TNHH S-Global chuyên chế biến muối; công ty TNHH Shinwoo Tech chuyên sản xuất sản phẩm cơ khí; công ty TNHH Yzside.Com PTE chuyên đầu tư xuất khẩu cá ngừ; công ty TNHH Pegas Việt Nam chuyên kinh doanh khách sạn; công ty TNHH 3D Art Gallery chuyên tư vấn thiết kế trang trí nội thất; và dự án thực hiện dịch vụ thụ động hóa bề mặt kim loại phục vụ trong ngành đóng tàu của Hàn Quốc, tổng vốn đầu tư 6,3 triệu USD; nhưng cũng có 01 dự án bị thu hồi giấy phép là công ty TNHH Han Sung Vina vốn đầu tư 1 triệu USD.

Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội ước thực hiện năm 2016 được 32.000 tỷ đồng, tăng 13,92% so năm 2015: Vốn nhà nước 11.300 tỷ đồng, tăng 14,09%; vốn ngoài nhà nước 19.950 tỷ đồng, tăng 13,6%; vốn nước ngoài 750 tỷ đồng, tăng 19,91%. Trong năm 2016, UBND tỉnh tiếp tục tăng cường công tác quản lý về đầu tư công, giải quyết các vướng mắc trong thủ tục hành chính, ưu tiên vốn cho các công trình trọng điểm có tính đột phá, các chương trình mục tiêu theo quy định của Chính phủ, điều chỉnh vốn với các dự án không có khả năng hoàn thành hoặc chưa hoàn tất thủ tục đầu tư để tăng cường vốn cho các công trình đã hoàn thành nhưng thiếu vốn thanh toán, các dự án được bổ sung vốn nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư, tránh nợ đọng vốn.

Đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý năm 2016 được 3.128,8 tỷ đồng, tăng 2,11% so năm 2015: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh 1.893,78 tỷ đồng, giảm 6,89%; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện 866,97 tỷ đồng tăng 16,05%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã 368,05 tỷ đồng, tăng 30,01%. Trong năm có 109 công trình khởi công mới với tổng dự toán trên 219,6 tỷ đồng và 125 công trình hoàn thành bàn giao đưa vào sử dụng với tổng vốn đầu tư trên 361,7 tỷ đồng; tạo năng lực mới tăng gồm 15,57 km đường giao thông, 1.530 m2 nhà làm việc, 1.817 m2 khối hành chính trường học, 2.904 m2 trường mẫu giáo, 2.160 chỗ/60p trường học, 596 m2 nhà văn hóa, 6.190 m mương thoát nước, 4.126 m kênh mương nội đồng và 200 m kè chắn sóng…

5. Thương mại, dịch vụ

a) Tổng mức bán hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng:

Hoạt động thương mại dịch vụ trên địa bàn tỉnh diễn ra khá sôi động, giá cả thị trường được bình ổn, nhu cầu tiêu dùng của người dân tăng lên, mạng lưới thương mại bán lẻ và dịch vụ tiêu dùng trên địa bàn tỉnh được củng cố và ngày càng mở rộng về quy mô kinh doanh, hàng hóa lưu thông phong phú, mẫu mã hấp dẫn, hàng hóa trong nước tiếp tục chiếm ưu thế so với hàng ngoại nhập, nhiều chương trình khuyến mãi giảm giá liên tục được tổ chức tại các doanh nghiệp, trung tâm thương mại, các chương trình hội chợ, giới thiệu sản phẩm liên tục được tổ chức nhằm kích thích nhu cầu tham quan, mua sắm của người tiêu dùng, hoạt động giáo dục, y tế, vui chơi giải trí... được quan tâm phát triển mạnh đã góp phần đưa tổng mức bán hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng trên địa bàn tỉnh năm 2016 được 128.310,79 tỷ đồng, tăng 14,98% so năm 2015: Kinh tế nhà nước được 26.176,66 tỷ đồng, tăng 6,26% (trong đó các DN thương mại dịch vụ nhà nước được 18.382,34 tỷ đồng, tăng 6,22% với mặt hàng chủ yếu bán ra: 678,56 triệu bao thuốc lá, giảm 8,8%; 348.311 tấn xăng dầu, tăng 3,72%); kinh tế tập thể 78,17 tỷ đồng, tăng 19%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 238,1 tỷ đồng, tăng 20,53%; kinh tế tư nhân, cá thể và hỗn hợp 101.817,86 tỷ đồng, tăng 17,44%.

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng được 74.160 tỷ đồng, tăng 15%: Ngành du lịch lữ hành 233,4 tỷ đồng tăng 18,25%; bán lẻ ngành thương mại được 51.330 tỷ đồng, tăng 15,35%; ngành lưu trú và ăn uống được 12.711,9 tỷ đồng tăng 12,48%; ngành dịch vụ 9.884,7 tỷ đồng tăng 5,04%.

Chi cục Quản lý thị trường chủ trì, phối hợp với các ngành chức năng tăng cường công tác quản lý thị trường về tình hình chống buôn lậu, hàng cấm, hàng giả, hàng kém chất lượng, gian lận thương mại, … góp phần ổn định phát triển sản xuất, kinh doanh, lưu thông hàng hóa, đảm bảo đủ nguồn hàng phục vụ nhân dân, ổn định giá cả trên thị trường, giữ gìn môi trường kinh doanh lành mạnh và ổn định tâm lý người tiêu dùng. Năm 2016, Chi cục quản lý thị trường đã kiểm tra 3.395 lượt cơ sở SXKD, phát hiện 808 vụ vi phạm, xử phạt hành chính 805 cơ sở, thu nộp ngân sách 3,6 tỷ đồng.

b) Du lịch:

Các hoạt động du lịch, dịch vụ trên địa bàn tỉnh tiếp tục được duy trì phát triển và phát huy thế mạnh của tỉnh. Các cơ sở kinh doanh du lịch tiếp tục phát triển theo xu hướng đầu tư chiều sâu và quy mô lớn. Các loại hình, sản phẩm du lịch ngày càng đa dạng, nâng cao chất lượng, nhiều hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể thao dịch vụ giải trí mới lạ được diễn ra mang nhiều nội dung phong phú, hấp dẫn, phục vụ tốt nhu cầu vui chơi, tham quan, nghỉ dưỡng cho nhân dân và khách du lịch trong những ngày lễ lớn như tết Nguyên đán, Giỗ tổ Hùng Vương, Ngày chiến thắng 30/4 và Quốc tế Lao động 1/5, Lễ Quốc Khánh 2/9... khá dài nên lượng khách du lịch tập trung về các điểm vui chơi giải trí như Vinpearl Land, khu du lịch Long Phú, bến tàu du lịch Cầu Đá, các khu du lịch tắm bùn khoáng nóng như Tháp Bà, I’Resort Nha Trang, Trăm Trứng, các khu du lịch sinh thái như Yang Bay, Nhân Tâm... tăng mạnh; khách quốc tế đến Khánh Hòa tăng cao do lượng khách Trung Quốc tăng đột biến, thị trường khách Nga dần hồi phục và có xu hướng tăng trở lại vào thời điểm nghỉ đông đã góp phần nâng tổng doanh thu du lịch toàn tỉnh năm 2016 được 12.998 tỷ đồng, tăng 16,43% so năm 2015; khách lưu trú được 4.527,74 nghìn lượt người với 10.467,76 nghìn ngày khách tăng lần lượt là 12,32% và 14,39%, trong đó 1.162,57 nghìn lượt khách quốc tế với 3.654,17 nghìn ngày khách quốc tế tăng lần lượt là 22,27% và 25,96%, đã thu hút 17.770,68 nghìn lượt khách tham quan tăng 12,4%.

c) Xuất, nhập khẩu hàng hóa:

Năm 2016, Khánh Hòa có 120 DN tham gia xuất khẩu với kim ngạch xuất khẩu hàng hóa trên địa bàn tỉnh ước được 1.210 triệu USD chỉ đạt 93,08% kế hoạch và tăng 7,75% so năm 2015: Kinh tế nhà nước 61,7 triệu USD, tăng 8,29%; kinh tế tư nhân 542,82 triệu USD, tăng 22,24%; kinh tế tập thể 1,8 triệu USD, tăng 6,56% và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 603,65 triệu USD, giảm 2,68% chủ yếu do công ty TNHH Nhà máy tàu biển Hyundai Vinashin chỉ xuất được 12 chiếc tàu biển trị giá 376,3 triệu USD, giảm 9,5%. Tăng khá so năm 2015 về giá trị xuất khẩu có: Công ty TNHH CP XNK cà phê Intimex Nha Trang được 141,95 triệu USD, tăng 76,52%; công ty CP Nha Trang Seafoods – F17 được 45 triệu USD, tăng 40,58%; công ty TNHH Thịnh Hưng 30,37 triệu USD, tăng 42,44%; công ty TNHH Chế biến & XK thủy sản Cam Ranh 22,42 triệu USD, tăng 27,53%; công ty CP Vịnh Nha Trang 27,25 triệu USD, tăng 29,04%; công ty TNHH MTV Rapexco – Đại Nam 34,11 triệu USD, tăng 5,68%. Các mặt hàng chủ yếu xuất đi trên 113 quốc gia vùng lãnh thổ, một số mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu tăng so năm 2015: 138,42 triệu USD cà phê, tăng gấp 2,0 lần; 4,23 triệu USD hàng thủ công mỹ nghệ, tăng 40,16%; 14,18 triệu USD máy móc thiết bị và phụ tùng, tăng 21,59%; 50,28 triệu USD các hàng hóa khác, tăng 13,81%; 78,48 triệu USD gỗ và sản phẩm từ gỗ, tăng 12,07%; 447,3 triệu USD hải sản các loại, tăng 12,20%; 11,56 triệu USD hạt điều, tăng 5,58%; 3,77 triệu USD cao su, tăng 2,78%; 1,7 triệu USD kim loại thường và sản phẩm kim loại thường khác, tăng 2,11%; các mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu giảm: 1,2 triệu USD quặng và khoáng sản khác, giảm 67,23%; 3,65 triệu USD hàng nông sản khác, giảm 64,49%; 384,35 triệu USD phương tiện vận tải và phụ tùng, giảm 9,19%; 68,27 triệu USD hàng dệt may, giảm 3,3%.

Về thị trường xuất khẩu, tập trung vào các thị trường như: Châu Âu 439,03 triệu USD, tăng 69,2% so với năm 2015 (Thị trường Anh 24,0 triệu USD, tăng 14,5%, Đức 44,11 triệu USD, tăng 10,22%; Hy Lạp 62,96 triệu USD, tăng gấp 2,1 lần; Manta 95,82 triệu USD, tăng gấp 3,2 lần; Liên Bang Nga 15,3 triệu USD, tăng 85,45%); Châu Mỹ 311,15 triệu USD, tăng 29,58% (Thị trường Mỹ 202,88 triệu USD, tăng 11,42%; Mehicô 8,81 triệu USD, tăng 19,86%); Châu Á 332,16 triệu USD, giảm 31,59% (Thị truờng Trung Quốc 23,89 triệu USD, giảm 4,32%; Đài Loan 18,98 triệu USD, giảm 16,35%; Nhật Bản 117,33 triệu USD, tăng 16,41%; Singapore 51,3 triệu USD, tăng 10,89%; Hàn Quốc 44,57 triệu USD, tăng 50,80%; Thái Lan 10,04 triệu USD, tăng 44,46%); Châu Đại Dương 45,48 triệu USD, giảm 50,4%.

Kim ngạch nhập khẩu toàn tỉnh năm 2016 được 720 triệu USD, tăng 2,27% so năm 2015: Thành phần kinh tế nhà nước được 94,42 triệu USD, tăng 0,2%; kinh tế tư nhân 229,23 triệu USD, tăng 6,95%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 396,42 triệu USD, tăng 0,26%. Các mặt hàng nhập khẩu trên 81 quốc gia và vùng lãnh thổ, một số mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu tăng so năm 2015: 5,06 triệu USD sản phẩm từ kim loại thường khác, tăng gấp 2,8 lần; 2,4 triệu USD sản phẩm hóa chất, tăng gấp 2,6 lần; 5,18 triệu USD nguyên phụ liệu dược phẩm, tăng gấp 2,1 lần; 5,62 triệu USD chất dẻo nguyên liệu, tăng 86,2%; 2,19 triệu USD hóa chất, tăng 72,79%; 857,4 nghìn USD thuốc tân dược, tăng 50,42%; 113,78 triệu USD hàng hóa khác, tăng 23,19%; 34,23 triệu USD vải và phụ liệu may mặc, tăng 21,05%; 183,53 triệu USD hải sản các loại, tăng 10,49%; 6,0 triệu USD kim loại thường khác, tăng 9,78%; 481,8 nghìn USD lúa mỳ, tăng 7,31%; 17,97 triệu USD giấy và sản phẩm từ giấy, tăng 2,76%; các mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu giảm: 251,4 nghìn USD khí đốt hóa lỏng, giảm 58,87%; 1,52 triệu USD bông và xơ, sợi dệt các loại, giảm 58,66%; 19,97 triệu USD thức ăn nuôi tôm, giảm 32,94%; 10,7 triệu USD gỗ và sản phẩm gỗ, giảm 11,98%; 162,98 triệu USD máy móc, thiết bị phụ tùng, giảm 8,51%; 72,47 triệu USD nguyên phụ liệu thuốc lá, giảm 1,87%.

Về thị trường nhập khẩu, tập trung vào các thị trường như: Châu Á 636,96 triệu USD, tăng 3,1% so với năm 2015 (Thị truờng Trung Quốc 78,29 triệu USD, tăng 36,20%; Hồng Kông 16,1 triệu USD, giảm 24,94%; Nhật Bản 37,64 triệu USD, tăng 45,0%; Singapore 66,7 triệu USD, giảm 1,62%; Hàn Quốc 325,8 triệu USD, giảm 4,82%; Đài Loan 52,36 triệu USD, tăng 7,16%); Châu Âu 20,4 triệu USD giảm 37,74% (Thị trường Na Uy 4,93 triệu USD, giảm 19,18%; Đức 2,1 triệu USD, giảm 7,48%; Italia 1,4 triệu USD, tăng 20,68%; Pháp 1,1 triệu USD, giảm 39,89%; Hà Lan 6,88 triệu, tăng gấp 3,58 lần); Châu Mỹ 20,75 triệu USD, giảm 44,48% (Thị trường Mỹ 15,34 triệu USD, giảm 41,0%, Chi Lê 1,46 triệu USD, giảm 24,74%).

6. Giá cả

a) Chỉ số giá tiêu dùng (CPI):

Trong tháng 12, giá xăng dầu được Bộ Tài chính điều chỉnh 2 lần tăng giá vào ngày 5/12 và ngày 20/12 với mức tăng chung của giá xăng A95 là 1.240 đ/lít, xăng A92 là 1.250 đ/lít, dầu Diezel là 940 đ/lít đã tác động đến chỉ số giá tiêu dùng tháng 12/2016 tăng 0,51% so tháng trước. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, có 6 nhóm hàng có chỉ số giá tăng so tháng trước như: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,29%, trong đó thực phẩm tăng 2,28% do nhu cầu tiêu dùng thực phẩm vào mùa cưới tăng cao cộng với ảnh hưởng của mưa lớn, ngập lụt trên diện rộng nên giá rau xanh tăng cao; đồ uống và thuốc lá tăng 0,62%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,35%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,05%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,09%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,01%. Có 2 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá giảm như: Giao thông giảm 1%; văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,11%. Các nhóm hàng hóa và dịch vụ còn lại có chỉ số giá ổn định như: Thuốc và dịch vụ y tế; bưu chính viễn thông; giáo dục. Tính từ đầu năm đến nay, Bộ Tài chính quyết định 24 lần điều chỉnh giá bán lẻ xăng dầu trong nước (14 lần tăng giá và 10 lần giảm giá), cộng thêm việc kiểm soát lạm phát của Chính phủ, các ngành các cấp tăng cường kiểm tra, kiểm soát giá cả thị trường nên so với tháng 12/2015, chỉ số giá tiêu dùng tháng 12/2016 tăng 3,02%: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,03%; đồ uống và thuốc lá tăng 3,91%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,89%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 3,72%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,23%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 10,48%; giáo dục tăng 3,77%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,04%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 2,91%; riêng chỉ số giá giao thông giảm 1,14%; chi số giá bưu chính viễn thông ổn định. 

Giá bán lẻ bình quân chung một số mặt hàng tháng 12/2016: Gạo tẻ ngon (Gò Công) 16.092 đồng/kg; nếp thường (hạt tròn) 16.684 đồng/kg; thịt bò bắp 204.708 đ/kg; thịt lợn mông sấn 90.978 đồng/kg; gà mái ta còn sống 94.836 đồng/kg; trứng vịt 31.454 đồng/10 quả; cá thu khúc giữa 241.637 đồng/kg; dầu ăn Tường An 41.793 đồng/lít; đường trắng kết tinh 18.175 đồng/kg; bột ngọt AJINOMOTO 62.093 đồng/kg; sữa Ông Thọ 380g 21.000 đồng/hộp; gas đun (bình 12 kg-Shellgas) 306.828 đồng/bình; vàng 99,99% 3.602 nghìn đồng/chỉ; Đô la Mỹ 22.933 đồng/USD.

b) Chỉ số giá vàng và đô la Mỹ:

Chỉ số giá vàng tháng 12/2016 tăng 0,22% so tháng trước và tăng 8,34% so với tháng 12/2015. Chỉ số giá Đô la Mỹ tháng 12/2016 tăng 2,46% so tháng trước và tăng 1,28% so tháng 12/2015.

7. Vận tải, bưu chính viễn thông

a) Vận tải:

Trong những tháng cuối năm, mưa lũ đã làm cho nhiều tuyến đường giao thông, nông thôn trong tỉnh bị ngập sâu, mặt đường bị hư hại nặng gây mất an toàn giao thông. Sở Giao thông Vận tải đã chỉ đạo, phối hợp với các đơn vị trong ngành, các địa phương khắc phục hậu quả, đồng thời hướng dẫn phân luồng giao thông, cảnh báo đường bị sạt lở, ngập nước nhằm ngăn chặn tai nạn giao thông xảy ra.

Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải đường bộ, đường thủy năm 2016 ước được 4.116,57 tỷ đồng, tăng 9,63% so với năm 2015: Vận tải đường bộ được 3.052,07 tỷ đồng, tăng 10,13%; vận tải đường thủy 169,57 tỷ đồng, tăng 8,48%; vận tải kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải được 894,93 tỷ đồng, tăng 8,14%. Trong tổng doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải đường bộ, đường thủy: Kinh tế nhà nước được 602 tỷ đồng, tăng 58,56%; kinh tế ngoài nhà nước được 3.456,7 tỷ đồng, tăng 10,8%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được 57,87 tỷ đồng, giảm 77,37%.

Vận chuyển hành khách đường bộ và đường thủy năm 2016 ước được 42.819 nghìn lượt người, tăng 14,19% so năm 2015 (đường bộ được 41.147 nghìn lượt người và đường biển được 1.672 nghìn lượt người, tăng lần lượt là 14,16% và 14,87%); luân chuyển được 2.401.601 nghìn lượt người.km, tăng 13,08% (đường bộ 2.385.432 nghìn lượt người.km và đường biển 16.169 nghìn lượt người.km tăng lần lượt là 13,07% và 14,08%).

Vận chuyển hàng hóa đường bộ và đường thủy năm 2016 ước được 29.437 nghìn tấn, tăng 7,44% so năm 2015 (đường bộ được 29.015,5 nghìn tấn và đường biển được 421 nghìn tấn, tăng lần lượt là 7,5% và 3,44%); luân chuyển 2.845.754 nghìn tấn.km, tăng 5,33% (đường bộ 2.378.112 nghìn tấn.km và đường biển 467.642 nghìn tấn.km tăng lần lượt là 5,55% và 4,25%).

Doanh thu vận chuyển đường sắt năm 2016 ước được 228,18 tỷ đồng, tăng 5,68% so năm 2015: Vận chuyển hành khách 219,57 tỷ đồng, tăng 5,49%; vận chuyển hàng hóa 8,61 tỷ đồng, tăng 10,69%. Vận chuyển hành khách đường sắt được 784.536 lượt người, tăng 3,78%; luân chuyển hành khách 345.055,82 nghìn lượt người.km, tăng 3,44%; vận chuyển hàng hóa 14.025 tấn; luân chuyển hàng hóa 15.096,66 nghìn tấn.km, tăng lần lượt là 17,47% và 10,84%.

Từ ngày 16/12/2015 đến ngày 15/12/2016 trên địa bàn tỉnh xảy ra 166 vụ tai nạn và va chạm giao thông đường bộ làm chết 146 người, bị thương 83 người. Tai nạn giao thông đường sắt xảy ra 8 vụ, chết 8 người, bị thương 4 người. So năm 2015, về số vụ tai nạn và va chạm giao thông đường bộ giảm 11 vụ, số người bị thương giảm 8 người; về số vụ tai nạn đường sắt giảm 6 vụ, số người chết giảm 4 người, số người bị thương giảm 01 người.

b) Bưu chính viễn thông:

Tổng số thuê bao điện thoại phát triển mới năm 2016 đạt 12.910 thuê bao, nâng tổng số thuê bao điện thoại trên toàn tỉnh đến nay là 167.135 thuê bao: 83.473 thuê bao cố định và 83.662 thuê bao di động trả sau. Tổng doanh thu bưu chính viễn thông năm 2016 được 1.294,33 tỷ đồng, giảm 10,81% so với năm 2015; 50,3 nghìn bưu kiện đi có cước, tăng 9,35%; 92,61 nghìn bức thư và điện chuyển tiền, giảm 31,77%; phát hành báo chí được 18.574 nghìn tờ, cuốn, giảm 60,21%.

8. Tài chính, ngân hàng

a) Tài chính:

Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh năm 2016 được 17.365,6 tỷ đồng, bằng 125,18% dự toán, trong đó thu xuất nhập khẩu hải quan 5.192 tỷ đồng, bằng 63,53% dự toán; thu nội địa 12.173,6 tỷ đồng, bằng 113,8% dự toán với 14/17 khoản thu vượt dự toán như: Thu từ DN nhà nước trung ương; thu từ DN có vốn đầu tư nước ngoài; thu ngoài quốc doanh; thu lệ phí trước bạ; thu thuế sử dụng đất nông nghiệp; thu thuế thu nhập cá nhân; thu thuế bảo vệ môi trường; thu xổ số kiến thiết; thu phí và lệ phí; thu tiền sử dụng đất; thu tiền cho thuê mặt đất, mặt nước; thu tiền bán và thuê nhà ở thuộc sở hữu nhà nước; thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản; thu khác ngân sách và thu ngân sách xã. Các khoản thu không đạt dự toán: Thu từ DN nhà nước địa phương; thu thuế sử dụng đất phi nông nghiệp; thu cổ tức và lợi nhuận sau thuế. So với năm 2015, tổng thu ngân sách nhà nước tăng 27,98%, trong đó thu xuất nhập khẩu hải quan tăng 48,38%; thu nội địa tăng 20,89% với các khoản thu tăng cao hơn mức tăng chung như: Thu tiền cho thuê mặt đất, mặt nước tăng gấp 2,9 lần; thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản tăng gấp 2,68 lần; thu phí và lệ phí tăng 53,85%; thu thuế bảo vệ môi trường tăng 48,72%; thu ngoài quốc doanh tăng 45,49%; thu từ DN có vốn đầu tư nước ngoài tăng 32,61%; thu thuế thu nhập cá nhân tăng 32,68%; thu tiền bán và thuê nhà thuộc sở hữu nhà nước tăng 24,76%; thu lệ phí trước bạ tăng 22,23%.

Tổng chi ngân sách nhà nước địa phương năm 2016 được 13.302,61 tỷ đồng, bằng 143,52% dự toán năm, trong đó chi đầu tư phát triển được 5.173,41 tỷ đồng, bằng 225,79% (riêng chi đầu tư xây dựng cơ bản 826,29 tỷ đồng, bằng 100,88%); chi thường xuyên 5.444,07 tỷ đồng, bằng 104,88% dự toán với các khoản chi như: Chi sự nghiệp kinh tế 816,28 tỷ đồng, bằng 131,31%; chi sự nghiệp văn xã 3.156,17 tỷ đồng, bằng 102,37%; chi quản lý hành chính 1.041,43 tỷ đồng, bằng 105,61%; chi quốc phòng an ninh 187,5 tỷ đồng, bằng 120,77%; chi khác ngân sách 208,4 tỷ đồng, bằng 63,98%; chi quỹ khen thưởng cấp huyện, cấp xã 19,09 tỷ đồng; chi chương trình mục tiêu quốc gia 15,22 tỷ đồng; chi khác 565,88 tỷ đồng. So với năm 2015, tổng chi ngân sách nhà nước địa phương tăng 16,62%, trong đó chi đầu tư phát triển tăng 82,44%; chi thường xuyên tăng 4,23%.

b) Ngân hàng:

Tổng số chi nhánh TCTD hiện có trên địa bàn tỉnh là 37 Chi nhánh TCTD và 04 Quỹ tín dụng với 156 điểm giao dịch ngân hàng; 312 máy ATM. Thực hiện Chỉ thị số 01/CT-NHNN ngày 23/02/2016 của Ngân hàng Nhà nước về tổ chức thực hiện chính sách tiền tệ và đảm bảo hoạt động ngân hàng an toàn, hiệu quả năm 2016 các Chi nhánh TCTD trên địa bàn tỉnh đã bám sát mục tiêu phát triển kinh tế địa phương, đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn cho các dự án, các doanh nghiệp phục vụ sản xuất nhằm đảm bảo cung ứng vốn cho nền kinh tế, tạo điều kiện thuận lợi trong tiếp cận vốn ngân hàng. Lãi suất huy động VND kỳ hạn dưới 1 tháng là 0,3% - 1%/năm; lãi suất kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng là 4,3% - 5,5%/năm; lãi suất kỳ hạn từ 6 tháng đến dưới 12 tháng là 5,5% - 6,6%/năm; đối với kỳ hạn từ 12 tháng trở lên là 6,5% - 7,6%/năm; lãi suất huy động USD là 0%/năm đối với tiền gửi của dân cư và tổ chức; lãi suất cho vay ngắn hạn bằng VND áp dụng cho các đối tượng ưu tiên là 6%-7%/năm và trung dài hạn 7%-10%/năm; lãi suất cho vay sản xuất, kinh doanh khác của khối NHTM Nhà nước ngắn hạn ở mức 8,5%-9,5%/năm; trung và dài hạn ở mức 9,3%-10,5%/năm; khối NHTM cổ phần ngắn hạn ở mức 8,5%-10%/năm; trung và dài hạn ở mức 9%-11,5%/năm; lãi suất cho vay USD ở mức 2%-4%/năm đối với ngắn hạn; 3%-6%/năm đối với trung và dài hạn. 

Nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng ước năm 2016 đạt 63.500 tỷ đồng, tăng 20,7% so với năm 2015: Huy động vốn bằng VND 61.860 tỷ đồng, tăng 23,66% và huy động vốn bằng ngoại tệ 1.640 tỷ đồng, giảm 36,56%; dư nợ cho vay của các tổ chức tín dụng là 51.150 tỷ đồng, tăng 20,06%: Dư nợ bằng VND 46.290 tỷ đồng, tăng 20,08%; dư nợ bằng ngoại tệ 4.860 tỷ đồng, tăng 19,91%.

9. Văn hóa, xã hội

a) Giáo dục:

Mạng lưới trường học tiếp tục được mở rộng đến tận vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn nhằm đáp ứng nhu cầu học tập của học sinh. Sự nghiệp giáo dục của các cấp học, ngành học tiếp tục đẩy mạnh và nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo ổn định và từng bước được nâng lên; học sinh tốt nghiệp các cấp đều đạt tỷ lệ cao. Kết quả thi tuyển vào đại học, cao đẳng nằm trong tốp tỉnh, thành phố có tỷ lệ đậu cao. Kết thúc năm học 2015-2016, tỷ lệ tốt nghiệp THPT đạt 89,32%, cao hơn tỷ lệ tốt nghiệp của năm học trước.

Năm học 2016 - 2017, toàn ngành có 209.106 học sinh phổ thông: 97.368 học sinh tiểu học, 75.536 học sinh THCS, 36.202 học sinh THPT; 3.895 học sinh hệ giáo dục thường xuyên; 50.862 học sinh mẫu giáo. Toàn tỉnh hiện có 205 trường đạt chuẩn quốc gia (tăng 14 trường so với cùng kỳ năm trước): 58 trường mầm non; 72 trường tiểu học; 67 trường THCS và 8 trường THPT. Công tác bồi dưỡng cho giáo viên thường xuyên được quan tâm, chức năng hoạt động của các trung tâm giáo dục thường xuyên và hướng nghiệp được mở rộng, đáp ứng cho công tác tư vấn hướng nghiệp, giáo dục nghề nghiệp cho học sinh nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và phân luồng học sinh; thường xuyên tổ chức các kỳ thi cho học sinh như cuộc thi khoa học kỹ thuật cấp tỉnh, thi chọn học sinh giỏi giải Toán bằng máy tính cầm tay, thi học sinh giỏi các cấp... Ngoài ra, công tác tăng cường Tiếng Việt cho trẻ em mầm non, học sinh người dân tộc thiểu số cũng được quan tâm chỉ đạo, tỷ lệ học sinh miền núi bỏ học giảm dần, chất lượng dạy và học ngày càng tăng lên.

b) Y tế:

Ngành Y tế tiếp tục chỉ đạo các đơn vị tăng cường thanh tra, kiểm tra về an toàn vệ sinh thực phẩm, tuyên truyền đến các cơ sở y tế tuyến huyện, tiếp tục đẩy mạnh công tác y tế dự phòng và phòng chống các bệnh truyền nhiễm gây dịch, cúm A (H1N1), bệnh Tay - Chân - Miệng, dịch sởi, giám sát tả, đặc biệt là dịch sốt xuất huyết và bệnh do virút Zika. Năm 2016, trên địa bàn tỉnh có 5.228 ca sốt xuất huyết (03 trường hợp tử vong); 6 ca Zika; 989 ca bệnh tay chân miệng; 178 ca viêm gan virút. Đã khám chữa bệnh cho 3.545,87 nghìn lượt người; phẫu thuật 27.422 lượt người; điều trị nội trú 248,43 nghìn lượt người. Đã thực hiện tiêm đủ liều cho 19.680 trẻ dưới 1 tuổi; tiêm sởi mũi 2 cho 19.723 trẻ em 18 tháng tuổi; tiêm UV2+ cho 19.077 phụ nữ có thai; tiêm UV2 và UV2+ cho 24.012 phụ nữ 15-35. Từ đầu năm đến nay toàn tỉnh xảy ra 5 vụ ngộ độc thực phẩm với 207 trường hợp bị ngộ độc (01 trường hợp tử vong) và 896 trường hợp có biểu hiện rối loạn tiêu hóa sau khi ăn.

Công tác phòng chống HIV/AIDS đã được các đơn vị điều trị tăng cường quản lý sinh phẩm xét nghiệm chuẩn đoán HIV, trong năm 2016 đã phát hiện mới 104 ca nhiễm HIV nâng tổng số người nhiễm đến nay lên 3.429 người, trong đó 2.124 người chuyển sang giai đoạn AIDS, 1.208 người tử vong do AIDS.

c) Văn hóa, thể thao:

Ngành Văn hóa và Thể thao đã tổ chức các hoạt động tuyên truyền chào mừng Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII, bầu cử Quốc hội khóa XIV và Đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2016 - 2021. Các hoạt động văn hóa, văn nghệ, các giải thể thao chào mừng kỷ niệm các ngày lễ lớn và sự kiện văn hoá cũng được tổ chức chu đáo, thiết thực và hiệu quả như: Kỷ niệm 86 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/2/1930-03/2/2016); hoạt động Mừng Đảng - Mừng Xuân Bính Thân; 41 năm Ngày giải phóng Khánh Hòa (02/4/1975-02/4/2016) và 41 năm Ngày giải phóng Miền Nam thống nhất đất nước (30/4/1975-30/4/2016); 126 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890-19/5/2016); 86 năm Ngày truyền thống đấu tranh cách mạng của Đảng bộ và Nhân dân Khánh Hòa (16/7/1930-16/7/2016); 70 năm Ngày Bác Hồ đến Vịnh Cam Ranh (18/10/1946-18/10/2016); 55 năm Ngày mở đường Hồ Chí Minh trên biển (23/10/1961-23/10/2016); các Lễ hội Tháp Bà Ponagar, Lễ hội Am Chúa, Lễ Giổ Tổ Hùng Vương... đã tổ chức 129 buổi tuyên truyền lưu động; 19 cuộc tuyên truyền cổ động trực quan nhân các ngày lễ lớn; 25 cuộc triển lãm phục vụ tại các điểm Công viên bờ biển Nha Trang, Trung tâm Văn hóa tỉnh, Bảo tàng tỉnh và tại các huyện, thị xã, trên địa bàn tỉnh. Trung tâm Điện ảnh tỉnh tổ chức 1.317 buổi chiếu phim lưu động và các buổi chiếu phim phục vụ các ngày lễ lớn phục vụ nhân dân miền núi, hải đảo, vùng sâu vùng xa với 255 nghìn lượt người xem. Thư viện tỉnh đã bổ sung sách mới với 10.342 bản; bổ sung báo, tạp chí 198 tên; phục vụ 120.662 lượt độc giả; luân chuyển sách xuống cơ sở 47 lần.

Về thể thao thành tích cao từng bước được khẳng định và phát triển có trọng tâm, trọng điểm; tập trung phát triển mạnh ở các bộ môn như: Bóng đá, bóng chuyền, bóng bàn, điền kinh, võ thuật; nhiều môn xây dựng được đủ 3 tuyến vận động viên (vận động viên năng khiếu, tuyển trẻ, đội tuyển); nhiều vận động viên, huấn luyện viên được triệu tập vào đội tuyển và tuyển trẻ quốc gia; thành tích thi đấu các giải thể thao quốc gia, quốc tế được nâng lên. Trong năm 2016, đã tham gia thi đấu 66 giải toàn quốc và quốc tế, tổng số huy chương đạt được là 201 bộ huy chương (50 vàng, 70 bạc, 81 đồng); 32 kiện tướng; 91 VĐV cấp I. Đã thực hiện đào tạo 436 vận động viên (313 vận động viên tập trung, 123 vận động viên nghiệp dư).

d) Thiệt hại do thiên tai: 

Trong tháng 11 và những ngày đầu tháng 12, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 04 đợt mưa to đến rất to gây lũ lớn và ngập lụt nghiêm trọng trên diện rộng. Thiệt hại do mưa lũ đã làm chết 09 người; sập và hư hỏng 368 ngôi nhà; hơn 100 nghìn m3 đất, đá bị sạt, lở gây thiệt hại nghiêm trọng về giao thông như: Gây ách tắc giao thông tuyến QL1A, hư hỏng tuyến đường sắt đoạn qua hầm đèo Rù Rì, chia cắt giao thông tại nhiều vị trí của tuyến đường Khánh Lê - Lâm Đồng...; hơn 12.432 ha diện tích cây trồng bị thiệt hại (2.856 ha lúa vụ mùa 2016; 5.982 ha lúa vụ đông xuân 2016 - 2017; 1.370 ha rau đậu các loại; 1.998 ha cây hàng năm; 110 ha cây công nghiệp lâu năm; 116 ha cây ăn quả), 591 con gia súc và 24.572 con gia cầm bị chết và cuốn trôi; 57 tàu thuyền bị chìm, hư hỏng, nhiều diện tích đìa nuôi trồng thủy sản bị ngập; hơn 3,5 km kênh mương bị đứt gãy, hư hỏng, 5,3 km bờ sông, suối gần khu vực dân cư bị sạt lở, 04 cống thoát nước bị xói lở... ước tính tổng thiệt hại do mưa lũ là 924 tỷ đồng. UBND tỉnh đã chỉ đạo các địa phương, đơn vị trên địa bàn tỉnh khẩn trương thực hiện công tác khắc phục hậu quả do mưa lũ: Hỗ trợ, động viên, thăm hỏi các gia đình có người bị nạn; chủ động sơ tán người và tài sản; khắc phục các tuyến đường giao thông bị sạt lở, đảm bảo giao thông được thông suốt; hỗ trợ lương thực, giống cây trồng, vật nuôi đảm bảo đời sống và sản xuất cho người dân. Đến nay toàn tỉnh chưa có hiện tượng thiếu đói xảy ra, đời sống các tầng lớp dân cư trên địa bàn tỉnh nhìn chung ổn định.

Đánh giá chung:

Thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2016 trong bối cảnh có nhiều thuận lợi như tiềm lực của đất nước đã lớn mạnh hơn nhiều, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ngày càng được cải thiện, chính trị - xã hội phát triển ổn định; uy tín, vị thế quốc gia trên trường quốc tế không ngừng nâng lên; hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng; lạm phát tiếp tục được kiểm soát ở mức thấp; các chính sách vĩ mô được Chính phủ ban hành và chỉ đạo triển khai kịp thời, linh hoạt cùng với việc thực hiện đồng bộ và hiệu quả các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp là những yếu tố quan trọng giúp sản xuất kinh doanh trong nước có nhiều cải thiện và phát triển theo hướng tích cực. Bên cạnh đó, sự cạnh tranh gay gắt về chính trị tại các khu vực trên thế giới; tình hình Biển Đông diễn biến phức tạp; kinh tế thế giới phục hồi chậm; tình hình thời tiết nắng nóng kéo dài trong những tháng đầu năm cộng với mưa lũ trong những tháng cuối năm gây khó khăn cho hoạt động sản xuất nông nghiệp; sự xuất hiện một số dịch bệnh nguy hiểm ở người… là những yếu tố tác động tới kinh tế - xã hội cả nước nói chung và tỉnh Khánh Hòa nói riêng trong năm 2016.

 Quán triệt thực hiện các nghị quyết của Chính phủ, HĐND và UBND tỉnh đã ban hành nhiều nghị quyết, quyết định, chỉ thị cụ thể hóa các nghị quyết của Chính phủ, tập trung chỉ đạo các ngành các cấp đẩy mạnh cải cách hành chính, tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp. Lãnh đạo UBND tỉnh và các Sở ngành tăng cường kiểm tra đôn đốc giải quyết các kiến nghị của cơ sở. Nhiều doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh đã nỗ lực cố gắng tăng mức sản xuất, kinh doanh. Nhờ đó kinh tế xã hội của tỉnh từng bước phát triển, đạt kết quả khá toàn diện. Nhiều chỉ tiêu kinh tế tăng so với năm 2015: Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 7,5%; tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng tăng 15%; doanh thu du lịch tăng 16,43%; doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải đường bộ, đường biển, tăng 9,63%; thu ngân sách đạt 125,18% so dự toán và tăng 27,98% so với năm 2015. Các lĩnh vực văn hóa - xã hội được quan tâm chỉ đạo thực hiện và chuyển biến tích cực, nhất là các chính sách an sinh xã hội và phúc lợi xã hội. Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân, thông tin truyền thông, văn hóa thể thao tiếp tục được chú trọng. Công tác đền ơn đáp nghĩa, hỗ trợ người nghèo và đồng bào dân tộc thiểu số được quan tâm đúng mức góp phần ổn định và nâng cao đời sống nhân dân. Cải cách hành chính, giải quyết khiếu nại, tố cáo, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí được đẩy mạnh. An ninh chính trị trật tự an toàn xã hội được giữ vững; tai nạn giao thông giảm ở cả 3 tiêu chí. 

Năm 2017 là năm có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc đẩy mạnh thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm giai đoạn 2016 - 2020. Do đó, mục tiêu chủ yếu của năm 2017 là tiếp tục tổ chức thực hiện có hiệu quả các cơ chế, chính sách của Chính phủ về đẩy mạnh thực hiện tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh; các đột phá chiến lược; ứng phó với biến đổi khí hậu, chủ động phòng chống thiên tai; quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường; cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp; đảm bảo hệ thống an sinh, phúc lợi xã hội; tập trung giảm nghèo bền vững. Củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc chủ quyền biên giới quốc gia. Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, tăng cường công tác phòng chống tham nhũng./. 



Các bài mới nhất


THÔNG TIN MỚI

UBND tỉnh Khánh Hòa tổ chức Hội nghị phổ biến Luật Thống kê

Nghị định số 94/2016/NĐ-CP của Chính phủ : Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thống kê

Nghị định số 95/2016/NĐ-CP của Chính phủ : Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thống kê

Nghị định số 97/2016/NĐ-CP của Chính phủ : Quy định nội dung chỉ tiêu thống kê thuộc hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia

Tình hình kinh tế xã hội tháng 6 năm 2016

Tờ gấp Khánh Hòa
Kinh tế xã hội năm 2015

Quyết định số 1692/QĐ-UBND ngày 14/6/2016 của UBND tỉnh Khánh Hòa "Về việc ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật Thống kê trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa"

Quy trình kiểm tra, giám sát thực hiện phương án điều tra thống kê và chế độ báo cáo thống kê

GIÁ VÀNG SJC
ĐVT: ngàn đồng/lượng
Giá mua vào Giá bán ra
Label Label
Cập nhật vào lúc Label
TỶ GIÁ NGOẠI TỆ
ĐVT: đồng
Mã NT Giá mua Giá bán
LabelLabelLabel
Cập nhật vào lúc Label
 LIÊN KẾT WEBSITE