Chỉ số giá tiêu dùng toàn quốc

TÌNH HÌNH KINH TẾ XÃ HỘI THÁNG 9/2016
Tình hình kinh tế xã hội | Tình hình kinh tế xã hội

Tốc độ phát triển một số chỉ tiêu Kinh tế chủ yếu tỉnh Khánh Hòa
tháng 9/2016 so với tháng trước và 9 tháng năm 2016 so với cùng kỳ năm trước

 (%)

Một số chỉ tiêu kinh tế chủ yếu

Tháng 9/2016  so với tháng trước

9 tháng năm 2016 so với cùng kỳ năm trước

Chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp

109,60

107,54

Vốn đầu tư ngân sách nhà nước thực hiện

102,88

98,57

Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

94,57

114,80

Tổng kim ngạch xuất khẩu

101,04

108,52

Tổng kim ngạch nhập khẩu

103,56

91,46

Doanh thu du lịch

82,10

121,28

Khách quốc tế đến Khánh Hòa

60,48

130,67

Chỉ số giá tiêu dùng

100,29

102,08

Chỉ số giá vàng

99,40

106,04

Chỉ số giá đô la Mỹ

100,02

98,63

 

Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ sốgiá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ
Tháng 9 năm 2016

 

Chỉ số giá tháng 9/2016 so với (%)

Bình 
năm 2016 so
cùng
kỳ

Kỳ gốc 2009

Cùng tháng năm trước

Tháng 12 năm trước

Tháng trước

Chỉ số giá tiêu dùng

102,22

102,08

101,55

100,29

101,19

I. Hàng ăn và dịch vụ ăn uống

104,40

102,22

101,23

100,08

101,58

   Trong đó:  1- Lương thực

101,55

104,69

103,94

100,03

102,75

                    2- Thực phẩm

106,78

102,73

101,21

100,14

101,83

                    3- Ăn uống ngoài gia đình

101,26

100,23

100,23

100,00

100,72

II. Đồ uống và thuốc lá

105,22

104,26

103,04

100,00

104,02

III. May mặc, mũ nón, giầy dép

102,22

100,32

100,28

100,11

100,53

IV. Nhà ở, điện, nuớc, chất đốt,VLXD

104,88

104,08

103,25

100,05

103,44

V. Thiết bị và đồ dùng gia đình

100,97

99,94

100,08

99,97

100,35

VI. Thuốc và dịch vụ y tế

110,10

110,48

110,48

100,00

108,08

VII. Giao thông

79,56

93,62

95,71

100,68

90,75

VIII. Bưu chính viễn thông

98,44

100,00

100,00

100,00

100,00

IX. Giáo dục

109,76

105,85

103,77

103,77

102,44

X. Văn hoá, giải trí và du lịch

103,94

101,95

101,95

100,00

101,26

XI. Hàng hoá và dịch vụ khác

104,16

102,94

102,94

99,98

102,29

Chỉ số giá vàng

101,49

106,04

109,78

99,40

99,66

Chỉ số giá đô la Mỹ

105,04

98,63

98,54

100,02

102,09

 

Giá Bán Lẻ Hàng Hóa tháng 9 năm 2016

DANH MỤC HÀNG HÓA

ĐVT

THÁNG 9/2016

THÁNG 9/2015

THÁNG 12/2015

Gạo tẻ thường ( ML 202)

đ/kg

9.898

9.398

9.898

Gạo tẻ ngon ( Gò Công)

đ/kg

16.092

16.183

16.092

Gạo nếp thường

đ/kg

16.684

15.719

16.684

Sắn tươi

đ/kg

7.607

7.518

7.607

Thịt lợn mông sắn                 

đ/kg

90.978

91.457

90.978

Thịt bò bắp

đ/kg

204.708

200.403

204.708

Gà mái ta còn sống  1.5 kg/con

đ/kg

94.836

90.922

94.836

Trứng vịt loại vừa

Đồng /10 quả

26.730

28.776

27.124

Dầu ăn Tường An 1 lít

đ/lít

42.793

42.193

42.793

Đậu xanh hạt loại 1

đ/kg

34.231

37.129

34.231

Đậu nành

đ/kg

17.559

20.336

17.559

Đậu phụng loại 1

đ/kg

43.729

41.458

43.729

Cá thu khúc giữa

đ/kg

218.900

201.667

218.900

Muối hạt

đ/kg

2.789

2.893

2.789

Nước mắm cá cơm 15 độ đạm

đ/lít

23.389

24.369

23.389

Bột ngọt Ạinomoto gói 454 g

đ/kg

62.093

61.211

62.093

Sữa đặt có đường hiệu Ông Thọ

đ/hộp

21.000

21.000

21.000

Nước khoáng VIKODA 500ml

đ/lít

7.975

7.765

7.975

Bia hơi Win – San Migue

đ/lít

7.391

7.597

7.391

Thuốc lá White Hore Khánh Hòa

đ/bao

21.000

20.196

21.000

Đường trắng kết tinh Khánh Hòa

đ/kg

17.173

16.390

17.173

Giấy kẻ ngang 20 tờ/tập

đ/tập

5.378

5.200

5.378

Vitamin B1 – 100mg. lọ 100 viên

đ/100viên

6.188

7.097

6.188

Xi măng đen PC40 Hoàng Thạch

đ/kg

1.736

1.740

1.736

Gạch xây ( gạch ống Tuynen)

đ/viên

907

938

907

Dầu hỏa

đ/lít

10.848

12.660

10.723

Xăng A92              

đ/lít

15.859

18.460

15.446

Điện sinh hoạt

đ/kwh

1.987

1.953

1.983

Gas đun ( bình 12kg-Shellgas)

đ/kg

22.617

24.266

22.569

Nước máy               

đ/m3

5.448

5.235

5.473

Vàng 99.99%

Nghìn đ/chỉ

3.650

3.444

3.672

Đô la Mỹ

đ/USD

22.312

22.624

22.308

 

BÁO CÁO

Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Khánh Hòa

9 tháng đầu năm 2016

                                                   

9 tháng đầu năm 2016, do tác động của biến đổi khí hậu, nắng nóng kéo dài ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp và đời sống nhân dân tỉnh Khánh Hòa. Trước tình hình đó, Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh đã tổ chức quán triệt đến các cấp, các ngành, các DN về Nghị quyết 01/NQ-CP ngày 07 tháng 01 năm 2016 của Chính phủ “về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách Nhà nước năm 2016”. Đồng thời, để chủ động ứng phó với tình hình hạn hán, xâm nhập mặn, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 831/QĐ-UBND về Phương án phòng, chống hạn và xâm nhập mặn năm 2016 trên địa bàn tỉnh; cùng với sự nỗ lực của các doanh nghiệp và nhân dân toàn tỉnh. Nhờ đó kinh tế - xã hội của tỉnh tiếp tục phát triển ổn định.

1. Tăng trưởng kinh tế

Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) 9 tháng đầu năm 2016 (giá so sánh 2010) được 32.917,94 tỷ đồng, tăng 9,93% so cùng kỳ năm trước: Phân theo khu vực ngành kinh tế tăng 7% (khu vực ngành công nghiệp và xây dựng tăng 8,6%; khu vực dịch vụ tăng 7,72%; nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 0,31%); thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 25,92% (chủ yếu do thu thuế nhập khẩu xăng dầu tăng 44%).

Trong tổng mức tăng chung, khu vực dịch vụ đóng góp nhiều nhất vào mức tăng trưởng chung. Một số ngành chiếm tỷ trọng lớn trong khu vực dịch vụ có mức tăng trưởng khá so cùng kỳ năm trước: Ngành thương mại tăng 9,41%; dịch vụ ăn uống tăng 9,56%; thông tin truyền thông tăng 7,72%. Khu vực công nghiệp và xây dựng, ngành công nghiệp tăng 7,65%, trong đó ngành công nghiệp chế biến, chế tạo với mức tăng 8,43%, góp phần quan trọng vào mức tăng trưởng chung và ngành xây dựng tăng 13,86%. Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản có mức tăng trưởng thấp do sản lượng cây hàng năm và nuôi trồng thủy sản giảm sút.

Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) giá thực tế 9 tháng đầu năm 2016 là 43.874,05 tỷ đồng. Về cơ cấu nền kinh tế: Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 12,21%; khu vực công nghiệp - xây dựng chiếm 29,73%; khu vực dịch vụ chiếm 40,2%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 17,86%.

Hoạt động sản xuất kinh doanh của các ngành kinh tế, văn hoá xã hội trên địa bàn tỉnh được thể hiện cụ thể như sau:

2. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

a) Nông nghiệp:

Các địa phương trong tỉnh tập trung thu hoạch vụ hè thu, gieo trồng và chăm sóc cây hàng năm vụ mùa, đã gieo trồng được 2.032 ha lúa mùa, tăng 35,8% so cùng kỳ năm trước. Các địa phương trong tỉnh đã thu hoạch xong 13.641,8 ha lúa hè thu, năng suất đạt 58,36 tạ/ha, tăng 1,57 tạ/ha so với vụ hè thu năm trước; các huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh đều có năng suất lúa tăng hơn so với vụ hè thu năm trước: Thành phố Nha Trang 61,42 tạ/ha, tăng 1,4%; thành phố Cam Ranh 55,99 tạ/ha, tăng 3,5%; thị xã Ninh Hòa 54,45 tạ/ha, tăng 1,7%; huyện Cam Lâm 59,7 tạ/ha, tăng 1,5%; huyện Vạn Ninh 60 tạ/ha, tăng 3,1%; huyện Khánh Vĩnh 36,52 tạ/ha, tăng 1,6%; huyện Diên Khánh 62 tạ/ha, tăng 2,6% và huyện Khánh Sơn 33,65 tạ/ha, tăng 63,2%.

Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm từ đầu vụ đông xuân 2015 - 2016 đến nay được 72.354,4 ha, bằng 88,87% KH, trong đó cây lương thực 41.021,3 ha, bằng 84,13%; cây chất bột có củ 5.882,4 ha, bằng 92,56%; cây thực phẩm 5.095,7 ha, bằng 82,39%; cây công nghiệp hàng năm 19.743,5 ha, bằng 98,15%. So cùng kỳ năm trước, tổng diện tích gieo trồng tăng 6,38%; trong đó cây lương thực tăng 14,59%; cây thực phẩm tăng 6,09%; cây chất bột có củ giảm 4,7% và cây công nghiệp hàng năm giảm 4,11%.

9 tháng đầu năm 2016, sản lượng thu hoạch một số cây lâu năm và cây ăn quả đạt khá so cùng kỳ năm trước do diện tích cho sản phẩm tăng, trong đó sản lượng xoài đạt 39.839,2 tấn, tăng 1,23%; chuối 24.650 tấn, tăng 2,41%; dứa (thơm, khóm) 694,3 tấn, tăng 6,63%; măng cụt 21,9 tấn, tăng 45,67%; cam 446,5 tấn, tăng 10,03%; quýt 72,8 tấn, tăng 15,16%; điều 4.968,4 tấn, tăng 0,76%; hồ tiêu 86,2 tấn, tăng 28,6%; bên cạnh đó vẫn có một số cây có sản lượng giảm như: sầu riêng 2.570,2 tấn, giảm 0,25%; na (mãng cầu) 691,8 tấn, giảm 5,29%; mít 2.363 tấn, giảm 11,28%; dừa 5.569,1 tấn, giảm 0,91%.

Từ đầu năm đến nay trên địa bàn tỉnh chưa xảy ra dịch cúm gia cầm, dịch lở mồm long móng gia súc, dịch tai xanh ở lợn. Ngành Thú y tổ chức tiêm phòng vắcxin cúm gia cầm, kiểm tra giám sát, theo dõi chặt chẽ tình hình dịch bệnh, chủ động tăng cường công tác phòng chống dịch cúm gia cầm, lở mồm long móng, lợn tai xanh… vệ sinh tiêu độc chuồng trại, kiểm soát các cơ sở kinh doanh, giết mổ đề phòng dịch bệnh xảy ra trên địa bàn tỉnh, kiểm tra việc lưu thông, vận chuyển gia súc gia cầm và sử dụng chất cấm trong chăn nuôi. Ước tính đến tháng 9/2016, toàn tỉnh có 4.347 con trâu, giảm 3,18% so cùng kỳ năm trước; 83.488 con bò, tăng 1,2%; 178.241 con lợn, tăng 1,79%; 2.919 nghìn con gia cầm, giảm 2,21%.

b) Lâm nghiệp:

9 tháng đầu năm 2016, sản lượng khai thác gỗ từ rừng trồng được 27.080 m3, tăng 13,67% so với cùng kỳ năm trước; trồng mới rừng tập trung được 813 ha, tăng 0,99%. Các Sở ban ngành, các đơn vị có liên quan chủ động thực hiện có hiệu quả phương án phòng cháy, chữa cháy rừng trên địa bàn nên từ đầu năm đến nay chưa xảy ra cháy rừng. Từ ngày 01/01/2016 đến ngày 15/9/2016 lực lượng kiểm lâm đã phát hiện 384 vụ vi phạm luật bảo vệ và phát triển rừng, xử lý 330 vụ, tịch thu 641,2 m3 gỗ các loại, thu nộp ngân sách 5.368 triệu đồng tiền phạt và tiền bán lâm sản tịch thu.

c) Thủy sản:

Từ đầu năm đến nay thời tiết tương đối thuận lợi cho việc đánh bắt thủy sản, giá các mặt hàng thủy sản tương đối ổn định, cùng với các chính sách hỗ trợ của Nhà nước đã khuyến khích các hộ ngư dân đồng loạt ra khơi bám biển. Sản lượng khai thác thủy sản 9 tháng đầu năm 2016 ước được 83.118,5 tấn, tăng 4,02% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khai thác cá ngừ đại dương được 2.894,4 tấn tăng 11,8%.

Sản lượng nuôi trồng thủy sản đạt 10.804,5 tấn, giảm 5,16% so cùng kỳ năm trước: Cá đạt 3.042 tấn, giảm 5,55% do một số hộ nuôi cá bớp lồng bè tại xã vĩnh Lương, xã Ninh Ích và phường Cam Phúc Nam bị nhiễm khuẩn Vibrio Alginolyticus cộng với nguồn nước bị ô nhiễm gây thiếu oxy cục bộ và thời tiết nắng nóng làm cá chết; tôm sú 231 tấn, giảm 11,2%; tôm thẻ chân trắng 3.899,4 tấn, giảm 10,4%; tôm hùm 580 tấn, giảm 4,8%; riêng ốc hương 2.295,1 tấn, tăng 11% do dịch bệnh ít xảy ra, giá thương phẩm ổn định ở mức cao nên nhiều hộ nuôi tôm chuyển sang nuôi ốc hương.

Diện tích nuôi trồng thủy sản 9 tháng đầu năm 2016 ước được 4.529,9 ha, giảm 4,71% so cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích nuôi tôm sú 222,8 ha, giảm 5,2%; tôm thẻ chân trắng 2.096,2 ha, giảm 11,3% do thời tiết diễn biến thất thường, tình trạng xâm nhập mặn, môi trường nước thay đổi làm tôm chậm lớn, cộng với các loại dịch bệnh đốm trắng, nhiễm đầu vàng lan rộng nên nhiều hộ không mạnh dạn đầu tư thả nuôi.

3. Sản xuất công nghiệp

Chỉ số sản xuất công nghiệp 9 tháng đầu năm 2016 tăng 7,54% so cùng kỳ năm trước (thấp hơn mức tăng 8% của cùng kỳ năm 2015 và cao hơn mức tăng 7,26% của cùng kỳ năm 2014): Công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 8,02%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước tăng 8,21%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 10,41%; riêng công nghiệp khai khoáng giảm 14,72%.

Một số ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có chỉ số sản xuất 9 tháng đầu năm 2016 tăng so cùng kỳ năm trước: Sản xuất đồ uống tăng 29,37%; sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 8,37%; sản xuất trang phục tăng 7,25%. Các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có chỉ số sản xuất tăng thấp hoặc giảm như: Sản xuất sản phẩm thuốc lá tăng 5,29%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 4,35%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 1,30%; sản xuất chế biến thực phẩm tăng 0,26%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa giảm 6,59%; dệt giảm 4,63%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic giảm 3,3%.

Một số sản phẩm có chỉ số sản xuất 9 tháng đầu năm 2016 tăng so cùng kỳ năm trước: Các sản phẩm bằng vật liệu tết bện khác tăng 83,25%; cá khác và các bộ phận cá đóng hộp tăng 70,05%; bàn bằng gỗ các loại tăng 33,65%; nước yến tăng 31,39%; bia hơi tăng 22,60%; đường RE tăng 28,48%; thủy sản ướp đông khác tăng 14,02%; tôm đông lạnh tăng 11,02%; bộ quần áo thể thao khác tăng 7,37%; thuốc lá có đầu lọc tăng 5,29%;... Một số sản phẩm có chỉ số giảm như: Cát tự nhiên các loại giảm 45,34%; đường RS giảm 19,74%; các sản phẩm mây, tre đan các loại giảm 9,19%; bia tươi giảm 3%; mực đông lạnh giảm 0,82%;...

Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 8/2016 tăng 30,61% so cùng kỳ năm trước và tăng 8,3% so với tháng trước. Tính chung 8 tháng đầu năm 2016, chỉ số tiêu thụ tăng 3,47% so cùng kỳ năm trước. Các ngành có chỉ số tiêu thụ 8 tháng đầu năm 2016 tăng cao hơn mức tăng chung so với cùng kỳ năm trước là: Sản xuất đồ uống tăng 28,38% (sản xuất bia và mạch nha ủ men bia tăng 20,42%; sản xuất đồ uống không cồn, nước khoáng tăng 30,7%); sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 12,48%; sản xuất trang phục tăng 18,31%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa tăng 3,79%. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng thấp hoặc giảm là: Sản xuất và chế biến thực phẩm tăng 2,08%; sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 1,93%; sản xuất sản phẩm thuốc lá tăng 0,99%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác giảm 4,70% (sản xuất vật liệu xây dựng từ đất sét giảm 4,73%; sản xuất bê tông, các sản phẩm từ xi măng và thạch cao giảm 4,69%); sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic giảm 2,42%; dệt giảm 1,25%.

4. Đầu tư xây dựng 

9 tháng đầu năm 2016, có thêm 03 dự án đầu tư nước ngoài được cấp giấy phép là Dự án Liên doanh giữa công ty TNHH MTV Phát triển trang phục kiểu Pháp và công ty TNHH Sunbo Hồng Kông chuyên sản xuất cúp áo ngực; công ty TNHH S-Global chuyên chế biến muối và công ty TNHH Shinwoo Tech chuyên sản xuất sản phẩm cơ khí, tổng vốn đầu tư 4,52 triệu USD; nhưng cũng có 01 dự án bị thu hồi giấy phép là công ty TNHH Han Sung Vina vốn đầu tư 1  triệu USD.

UBND tỉnh tiếp tục chỉ đạo công tác quản lý đầu tư từ ngân sách nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư và tránh nợ đọng trong xây dựng cơ bản; chỉ đạo các chủ đầu tư rà soát cắt giảm các chi phí, hạng mục không ảnh hưởng đến mục tiêu của dự án để đảm bảo không vượt tổng mức đầu tư đã phê duyệt nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư, làm nền tảng cho việc triển khai thực hiện kế hoạch đầu tư công trung hạn 5 năm 2016 - 2020.

Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội 9 tháng đầu năm 2016 ước được 22.288,6 tỷ đồng, tăng 13,46% so cùng kỳ năm trước: Vốn nhà nước 7.567,04 tỷ đồng, tăng 12,81% (vốn trung ương quản lý 3.241,3 tỷ đồng; vốn địa phương quản lý 4.325,74 tỷ đồng tăng lần lượt là 17,38% và 9,65%); vốn ngoài nhà nước 14.240,42 tỷ đồng, tăng 13,8% và vốn nước ngoài 481,16 tỷ đồng, tăng 13,65%. Trong tổng vốn đầu tư phát triển, vốn đầu tư xây dựng cơ bản chiếm cao nhất 82,91%; vốn đầu tư mua sắm tài sản cố định dùng cho sản xuất không qua xây dựng cơ bản chiếm 9,28%; vốn đầu tư sửa chữa lớn, nâng cấp TSCĐ; vốn đầu tư bổ sung vốn lưu động và vốn đầu tư khác chiếm 7,81%.

Thời tiết thuận lợi đã tạo điều kiện cho các chủ đầu tư cũng như các đơn vị thi công đẩy nhanh tiến độ xây dựng nhằm đảm bảo kế hoạch đề ra. Các công trình giao thông, giáo dục, y tế, dân dụng luôn duy trì được tiến độ thi công ổn định và có vốn thực hiện khá là: Trường mầm non 20/10, trường MN Phước Tiến, trường MN Hồng Chiêm, trường MN Ngọc Hiệp, trường MN Bình Khê, trường MN Vĩnh Thạnh, trường MN Phước Đồng, trường TH Vĩnh Hiệp, trường THCS Nguyễn Công Trứ, trụ sở VP Thành ủy, UBND phường Phước Tiến, UBND phường Vĩnh Thọ, UBND xã Vĩnh Hiệp, trung tâm huấn luyện chiến đấu cho LLVT, đường Lương Hòa (gđ2), đường Châu Văn Liêm, đường Phú Nông – Cầu Dứa, đường Quảng Đức, đường Ba Làng (gđ2), đường Cao Văn Bé, CSHT khu TĐC Hòn Rớ, CSHT khu dân cư 32-33 Vĩnh Thọ, đồi Trại Thủy (Nha Trang); trường MN Cam Lợi, trường TH Cam Phú, trường TH Cam Linh, trường TH Cam Nghĩa, trường MN Ba Ngòi (Cam Ranh); trường TH Cam Hiệp Nam, trường THCS Trần Đại Nghĩa, trường MG Vàng Anh, trường MG Hoa Hồng, đường vào khu sản xuất Suối Chình, đường Trương Vĩnh Ký, đường Hàm Nghi (gđ3), đường liên xã Cam Hòa – Cam Hải Tây (gđ2), chân cầu Cam Hải, mương B4 (Cam Lâm); UBND phường Ninh Hà, trường TH Ninh Thọ 2, trường TH Ninh Đa, trường TH Ninh Giang, trường TH Ninh Thượng, trường TH Ninh Quang, trường TH Ninh Lộc, trường TH Ninh Hải, trường TH Ninh Bình, đường Vạn Thiện, kè chống xói lở Sông Dinh (Ninh Hòa); hội trường UBND xã Vạn Thắng, trung tâm VHTT xã Vạn Thắng, trường MG Vạn Phú, trường MG Vạn Phước, trường TH Vạn Thắng, đường Lê Lợi, đường liên xã Vạn Phú – Vạn Bình, HT nước sinh hoạt xã Xuân Sơn,  kênh Bà Hai – Bà Quý, kênh Ruộng tre, kênh Lỗ Gỗ (Vạn Ninh); hội trường Huyện ủy, trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện, trường TH Cầu Bà, đường vào khu sản xuất Gia Ngéo, tuyến đường 23, đường Tô Vĩnh Diện, đường cầu treo đi Xóm Mới, khu TĐC Bố Lang – Sơn Thái, khu TĐC Gia Lợi, khu TĐC thị trấn Khánh Vĩnh, HT cấp nước sinh hoạt xã Liên Sang, HT nước sinh hoạt Đá Trãi, cầu vào khu sản xuất Gia Lố, cầu Hoàng Quốc Việt, khu TĐC Bố Lang (Khánh Vĩnh); trung tâm bồi dưỡng chính trị, trụ sở Huyện đoàn, trường THCS Đinh Bộ Lĩnh, trường THCS Trần Quang Khải, trường TH Diên Điền, trường TH Diên Phú, trường MG Diên Điền, trạm bơm Xuân Trung, kênh tiêu liên xã Diên Bình – Diên Lạc – Diên Thạnh, Đài tưởng niệm Cầu Thành, đường vào khu sản xuất thôn Lỗ Gia, HT cấp nước sinh hoạt xã Suối Tiên, kè và đường dọc Sông Cái, kè chống sạt lỡ bờ Bắc thị trấn, khu dân cư Phú Ân Nam 2 (Diên Khánh); trường MN Hoàng Oanh, trường MN Sao Mai, đường Lê Duẩn, đường Hai Bà Trưng, (Khánh Sơn)…

9 tháng đầu năm 2016, có 87 công trình khởi công mới với tổng dự toán trên 184,1 tỷ đồng và 82 công trình hoàn thành bàn giao đưa vào sử dụng với tổng vốn đầu tư trên 224,3 tỷ đồng; tạo năng lực mới tăng gồm 12,55 km đường giao thông, 350 m2 nhà làm việc, 1.817 m2 khối hành chính trường học, 367 m2 trường mẫu giáo, 1.980 chỗ/54p trường học, 250 m2 nhà văn hóa, 6.190 m mương thoát nước, 1.293 m mương nội đồng và 200 m kè chắn sóng…

5. Thương mại, dịch vụ

a) Tổng mức bán hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng:

Hoạt động thương mại trên địa bàn tỉnh diễn ra khá sôi động, nguồn cung ứng dồi dào, hàng hóa lưu thông phong phú, mẫu mã hấp dẫn, nhiều chương trình khuyến mãi giảm giá liên tục được tổ chức tại các doanh nghiệp, trung tâm thương mại, hội chợ, cơ sở dịch vụ, điểm bán hàng đã tác động đến nhu cầu tham quan, mua sắm của người tiêu dùng, góp phần đưa tổng mức bán hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng trên toàn tỉnh 9 tháng đầu năm 2016 được 98.520,79 tỷ đồng, tăng 14,81% so cùng kỳ năm trước: Kinh tế nhà nước được 22.090,64 tỷ đồng, tăng 9,26% (trong đó các DN thương mại dịch vụ nhà nước được 13.666,39 tỷ đồng, tăng 6,42% với mặt hàng chủ yếu bán ra: 527,32 triệu bao thuốc lá, giảm 4,87%; 270.930 tấn xăng dầu, tăng 4,87%); kinh tế tập thể 51,84 tỷ đồng, tăng 19,12%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 636,35 tỷ đồng, tăng 52,06%; kinh tế tư nhân, cá thể và hỗn hợp 75.741,96 tỷ đồng, tăng 16,29%.

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 9 tháng đầu năm được 56.757,14 tỷ đồng, tăng 14,8%: Bán lẻ ngành thương mại tăng 14,84%; ngành dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 14,7%; ngành dịch vụ lữ hành tăng 49,03%;  ngành dịch vụ khác tăng 12,37%.

Chi cục Quản lý thị trường tỉnh đã chủ trì, phối hợp với các ngành chức năng tăng cường công tác quản lý thị trường về tình hình chống buôn lậu, hàng cấm, hàng giả, hàng kém chất lượng, gian lận thương mại, … góp phần ổn định phát triển sản xuất, kinh doanh, lưu thông hàng hóa, đảm bảo đủ nguồn hàng phục vụ nhân dân, ổn định giá cả trên thị trường, giữ gìn môi trường kinh doanh lành mạnh và ổn định tâm lý người tiêu dùng. 9 tháng đầu năm 2016, Chi cục quản lý thị trường đã kiểm tra 2.583 lượt cơ sở SXKD, phát hiện 699 vụ vi phạm, xử phạt hành chính 695 cơ sở, thu nộp ngân sách 2,79 tỷ đồng.

b) Xuất, nhập khẩu hàng hóa:

9 tháng đầu năm 2016, trên địa bàn tỉnh đã có 96 DN tham gia xuất khẩu, với kim ngạch xuất khẩu hàng hóa toàn tỉnh đạt 901,35 triệu USD, tăng 8,52% so cùng kỳ năm trước (thị trường châu Mỹ 193,05 triệu USD, chiếm 21,41% tổng kim ngạch xuất khẩu; châu Âu 378,06 triệu USD, chiếm 41,93%; châu Á 244,38 triệu USD, chiếm 27,11%; châu Phi 40,41 triệu USD, chiếm 4,48% và châu Đại Dương 45,45 triệu USD, chiếm 5,07%): Kinh tế tư nhân được 384,32 triệu USD, tăng 25,04%; kinh tế tập thể 1,3 triệu USD, tăng 13,77%; kinh tế nhà nước được 45,67 triệu USD, tăng 5,98%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 470,06 triệu USD, giảm 1,87%. Một số mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu tăng cao so cùng kỳ năm trước: 906 nghìn USD nguyên phụ liệu dệt, may, da, giày, gấp 3,13 lần; 10,6 triệu USD hạt điều, tăng gấp 2,48 lần; 95,46 triệu USD cà phê, tăng 88,23%; 953 nghìn USD đá quý, kim loại quý và sản phẩm, tăng 46,62%; 3,75 triệu USD hàng thủ công mỹ nghệ, tăng 39,92%; 1,26 triệu USD sản phẩm từ kim loại, tăng 23,78%; 53,97 triệu USD gỗ và sản phẩm từ gỗ, tăng 20,46%; 319,86 triệu USD hải sản các loại, tăng 15,34%; 35,36 triệu USD các nhóm hàng hóa khác, tăng 11,52%. Một số mặt hàng xuất khẩu có kim ngạch xuất khẩu giảm như: 313,72 triệu USD phương tiện vận tải và phụ tùng, giảm 6,06%; 47,3 triệu USD hàng dệt may, giảm 10,52%; 2,16 triệu USD cao su, giảm 13,65%; 10,5 triệu USD máy móc thiết bị và phụ tùng, giảm 27,22%; 1,24 triệu USD quặng và khoáng sản khác, giảm 50,79%; 3,8 triệu USD hàng nông sản khác, giảm 60,07%.

Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa 9 tháng đầu năm 2016 ước được 496,97 triệu USD, giảm 8,54% so cùng kỳ năm trước: Kinh tế nhà nước 72,67 triệu USD, tăng 6,04%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được 282,98 triệu USD, giảm 14,62%; kinh tế tư nhân được 141,32 triệu USD, giảm 1,45%. Một số mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu giảm như: 52,74 triệu USD nguyên phụ liệu thuốc lá, giảm 1,30%; 688,9 nghìn USD thuốc tân dược giảm 4,44%; 21,57 triệu USD vải và phụ liệu may mặc, giảm 10,09%; 124,7 triệu USD máy móc, thiết bị phụ tùng, giảm 13,5%; 78,46 triệu USD hàng hóa khác, giảm 15,36%; 35,07 triệu USD sắt thép các loại, giảm 38,04%; 14,53 triệu USD thức ăn nuôi tôm, giảm 50,71%; 1,3 triệu USD bông và xơ, sợi dệt các loại, giảm 62,15%. Trong khi đó một số mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu tăng so cùng kỳ năm trước: 3,33 triệu USD sản phẩm từ kim loại thường khác, tăng gấp 7,53 lần; 2,36 triệu USD sản phẩm hóa chất, tăng gấp 4,28 lần; 6,6 triệu USD gỗ và sản phẩm từ gỗ, tăng gấp 3,9 lần; 4,54 triệu USD chất dẻo nguyên liệu tăng gấp 2,07 lần; 2,97 triệu USD nguyên phụ liệu dược phẩm, tăng gấp 2,05 lần; 1,52 triệu USD hóa chất, tăng 80,26%; 17,9 triệu USD giấy và sản phẩm từ giấy, tăng 66,27%;  119,36 triệu USD hàng thủy sản, tăng 6,44%.

Về thị trường hàng hóa nhập khẩu, 9 tháng đầu năm 2016 kim ngạch hàng hóa nhập khẩu trên 81 quốc gia và vùng lãnh thổ. Một số thị trường có kim ngạch hàng hóa nhập khẩu giảm so cùng kỳ năm trước: Thị trường Hàn Quốc 241 triệu USD, giảm 18,83% (trong đó 89 triệu USD máy móc, giảm 15,52%; 32,22 triệu USD sắt thép các loại, giảm 43,08%; 73,6 triệu USD hàng hóa khác, giảm 13,6%; 30,94 triệu USD hàng thủy sản, tăng 44,24%); thị trường Mỹ 10,15 triệu USD, giảm 40,29% (trong đó 1,82 triệu USD hàng thủy sản, giảm 49%; 1,83 triệu USD thức ăn nguyên liệu cho gia súc, giảm 64,26%; 3,39 triệu USD nguyên liệu thuốc lá, giảm 36,64%). Các thị trường có kim ngạch nhập khẩu tăng so cùng kỳ năm trước: Thị trường Trung Quốc 60,89 triệu USD, tăng gấp 2,11 lần (trong đó 19,46 triệu USD hàng thủy sản tăng, gấp 5,56 lần; 20,42 triệu USD máy móc thiết bị, tăng 83,96%); Đài loan 39,3 triệu USD, tăng 40,86% (trong đó 33,6 triệu USD hàng thủy sản, tăng 49,53%); Singapore 52,08 triệu USD, tăng 10,57% (trong đó 37,5 triệu USD nguyên phụ liệu thuốc lá giảm 5,3%).

Cán cân thương mại hàng hóa 9 tháng đầu năm 2016 với xuất siêu 404,37 triệu USD: Khu vực kinh tế trong nước 253,93 triệu USD và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 187,08 triệu USD.

c) Du lịch:

Các hoạt động du lịch, dịch vụ trên địa bàn tỉnh tiếp tục được duy trì và phát triển, nhiều hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể thao dịch vụ giải trí mới lạ được diễn ra mang nhiều nội dung phong phú, hấp dẫn, phục vụ tốt nhu cầu vui chơi, tham quan, nghỉ dưỡng cho nhân dân và khách du lịch trong những ngày hè và lễ, Tết đã góp phần đưa doanh thu du lịch, vui chơi giải trí 9 tháng đầu năm 2016 ước được 6.389,95 tỷ đồng, tăng 21,29% so cùng kỳ năm trước; trong đó, doanh thu du lịch (lưu trú) được 4.547,67 tỷ đồng, tăng 21,28% với 3.605,7 nghìn lượt khách lưu trú và 8.384,92 nghìn ngày khách tăng lần lượt là 14,52% và 16,11%, trong đó 856,93 nghìn lượt khách quốc tế với 2.656,5 nghìn ngày khách quốc tế tăng lần lượt là 30,67% và 31,28% do lượng khách Trung Quốc tăng mạnh và thị trường khách Nga đang dần phục hồi. Số lượt khách tham quan du lịch trên toàn tỉnh 9 tháng đầu năm 2016 được 14,53 triệu lượt người, tăng 16,58% so cùng kỳ năm trước.

6. Giá cả

a) Chỉ số giá tiêu dùng (CPI):

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 9/2016 tăng 0,29% so tháng trước, trong đó nhóm giáo dục tăng cao nhất với 3,77%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,08% (trong đó chỉ số giá lương thực tăng 0,03%; chỉ số giá thực phẩm tăng 0,14%); may mặc, mũ nón, giầy dép tăng 0,11%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và VLXD tăng 0,05% do giá dầu hỏa tăng 700 đ/lít và giá gas tăng 6.000 đ/bình; giao thông tăng 0,68% do giá xăng dầu được điều chỉnh tăng với mức tăng chung của giá xăng là 1.410 đ/lít, giá dầu là 730 đ/lít vào ngày 19/8/2016 và ngày 5/9/2016 của Bộ Tài chính. Các nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá giảm: Thiết bị và đồ dùng gia đình giảm 0,03%; hàng hóa và dịch vụ khác giảm 0,02%. Các nhóm hàng hóa và dịch vụ còn lại có chỉ số giá ổn định như: Đồ uống và thuốc lá; thuốc và dịch vụ y tế; bưu chính viễn thông; văn hóa, giải trí và du lịch.

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 9/2016 tăng 1,55% so với tháng 12/2015, bình quân mỗi tháng tăng 0,17%. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 9 tháng đầu năm 2016 tăng 1,19% so với bình quân cùng kỳ năm 2015, tuy cao hơn so với mức tăng 0,89% của cùng kỳ năm trước nhưng thấp hơn nhiều so với chỉ số giá tiêu dùng bình quân 9 tháng đầu năm kể từ năm 2011 đến nay. Một số nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng so tháng 12/2015 như: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,23%; đồ uống và thuốc lá tăng 3,04%; may mặc, mũ nón, giầy dép tăng 0,28%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và VLXD tăng 3,25%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,08%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 10,48%; giáo dục tăng 3,77%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 1,95%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 2,94%; riêng giao thông giảm 4,29%; bưu chính viễn thông ổn định.

Giá bán lẻ bình quân chung một số mặt hàng tháng 9/2016: Gạo tẻ ngon (Gò Công) 16.092 đồng/kg; nếp thường (hạt tròn) 16.684 đồng/kg; thịt bò bắp 204.708 đ/kg; thịt lợn mông sấn 90.978 đồng/kg; gà mái ta còn sống 94.836 đồng/kg; trứng vịt 26.730 đồng/10 quả; cá thu khúc giữa 218.900 đồng/kg; dầu ăn Tường An 42.793 đồng/lít; đường trắng kết tinh 17.173 đồng/kg; bột ngọt AJINOMOTO 62.093 đồng/kg; sữa ông thọ 380g 21.000 đồng/hộp; gas đun (bình 12 kg-Shellgas) 271.404 đồng/bình; vàng 99,99% 3.650 nghìn đồng/chỉ; đô la Mỹ 22.312 đồng/USD.

b) Chỉ số giá vàng và đô la Mỹ:

Chỉ số giá vàng tháng 9/2016 giảm 0,6% so tháng trước do giá vàng thế giới biến động; tăng 9,78% so với tháng 12/2015 và tăng 6,04% so cùng tháng năm trước. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 9/2016 tăng 0,02% so tháng trước; giảm 1,46% so tháng 12/2015 và giảm 1,37% so cùng tháng năm trước.

7. Vận tải, bưu chính viễn thông

a) Vận tải:

Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải đường bộ, đường thủy 9 tháng đầu năm 2016 ước được 3.176,51 tỷ đồng, tăng 13,3% so cùng kỳ năm trước: Vận tải kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải được 662,19 tỷ đồng, tăng 19,13%; vận tải đường thủy 137,31 tỷ đồng, tăng 14,78%; vận tải đường bộ được 2.377,01 tỷ đồng, tăng 11,69%. Trong tổng doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải đường bộ, đường thủy: Kinh tế nhà nước được 438,29 tỷ đồng, tăng 69,05%; kinh tế ngoài nhà nước được 2.680,35 tỷ đồng, tăng 12,6%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được 57,87 tỷ đồng, giảm 64,69%.

Vận chuyển hành khách đường bộ và đường thủy 9 tháng đầu năm 2016 ước được 33.190 nghìn lượt người, tăng 11,81% so cùng kỳ năm trước (đường bộ được 31.781 nghìn lượt người và đường biển được 1.409 nghìn lượt người, tăng lần lượt là 11,44% và 21,09%); luân chuyển hành khách 1.834.452 nghìn lượt người.km, tăng 10,21% (đường bộ 1.820.630 nghìn lượt người.km và đường biển 13.822 nghìn lượt người.km tăng lần lượt là 10,14% và 20,82%).

Vận chuyển hàng hóa đường bộ và đường thủy 9 tháng đầu năm 2016 ước được 23.431 nghìn tấn, tăng 12,86% so cùng kỳ năm trước (đường bộ được 23.244 nghìn tấn và đường biển được 187 nghìn tấn, tăng lần lượt là 12,89% và 9,42%); luân chuyển hàng hóa 2.159.117 nghìn tấn.km, tăng 10,05% (đường bộ 1.809.455 nghìn tấn.km và đường biển 349.662 nghìn tấn.km tăng lần lượt là 10,45% và 8,04%).

Doanh thu vận chuyển đường sắt 9 tháng đầu năm 2016 ước được 168,5 tỷ đồng, tăng 3,38% so cùng kỳ năm trước: Vận chuyển hành khách 162,04 tỷ đồng, tăng 3,03%; vận chuyển hàng hóa đạt 6,46 tỷ đồng, tăng 12,95%. Vận chuyển hành khách đường sắt được 569.539 lượt người, tăng 0,3%; luân chuyển hành khách 256.762 nghìn lượt người.km, tăng 0,74%; vận chuyển hàng hóa 10.218 tấn; luân chuyển hàng hóa 11.168,66 nghìn tấn.km, tăng lần lượt là 13,62% và 11,68%.

Từ ngày 16/8/2016 đến 15/9/2016, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 13 vụ tai nạn và va chạm giao thông đường bộ làm chết 13 người; bị thương 12 người; tai nạn đường sắt xảy ra 1 vụ làm chết 1 người; bị thương 1 người. Tính chung 9 tháng đầu năm 2016 (từ ngày 16/12/2015 đến ngày 15/9/2016) trên địa bàn tỉnh xảy ra 123 vụ tai nạn và va chạm giao thông đường bộ làm chết 102 người; bị thương 65 người. Tai nạn giao thông đường sắt xảy ra 7 vụ; chết 7 người; bị thương 4 người. So cùng kỳ năm trước, về số vụ tai nạn và va chạm giao thông đường bộ giảm 9 vụ; số người chết giảm 6 người; bị thương giảm 3 người, về số vụ tai nạn đường sắt giảm 3 vụ; số người chết giảm 1 người.

b) Bưu chính viễn thông:

Số thuê bao điện thoại phát triển mới 9 tháng đầu năm 2016 đạt 8.706 thuê bao, nâng tổng số thuê bao điện thoại trên toàn tỉnh đến nay là 172.834 thuê bao: 89.174 thuê bao cố định và 83.660 thuê bao di động trả sau. 9 tháng đầu năm 2016, tổng doanh thu bưu chính viễn thông được 1.018,07 tỷ đồng, tăng 5,58% so cùng kỳ năm trước; 36,3 nghìn bưu kiện đi có cước, tăng 5,22%; 68,93 nghìn bức thư và điện chuyển tiền, giảm 29,86%; phát hành báo chí được 13.673 nghìn tờ, cuốn, giảm 65,43%.

8. Tài chính, ngân hàng

a) Tài chính:

Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh 9 tháng đầu năm 2016 ước được 12.682,05 tỷ đồng, bằng 91,42% dự toán năm và tăng 33,1% so cùng kỳ năm trước: Thu nội địa 9.129,73 tỷ đồng, bằng 85,35% và tăng 24,91%; thu từ hoạt động xuất nhập khẩu được 3.552,32 tỷ đồng, bằng 111,88% và tăng 60,06%. Trong tổng thu nội địa có các khoản thu tăng cao hơn mức tăng chung: Thu tiền cho thuê mặt đất, mặt nước 422,91 tỷ đồng, gấp 2,53 lần; thu tiền bán và thuê nhà ở thuộc sở hữu NN 12,28 tỷ đồng, tăng gấp 2,07 lần; thu phí và lệ phí 324,34 tỷ đồng, tăng 78,59%; thu thuế bảo vệ môi trường 442,97 tỷ đồng, tăng 72,98%; thu ngoài quốc doanh 2.300,79 tỷ đồng, tăng 76,86%; thu từ các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 268 tỷ đồng, tăng 47,78%; thu từ lệ phí trước bạ 246,4 tỷ đồng, tăng 31,5%; thu thuế thu nhập cá nhân 434,38 tỷ đồng, tăng 30,7%. Các khoản thu tăng thấp hoặc giảm: Thu thuế sử dụng đất nông nghiệp 674 triệu đồng, tăng 1,35%; thu từ các doanh nghiệp địa phương 2.808,9 tỷ đồng, tăng 1,81%; thu từ các doanh nghiệp trung ương 360 tỷ đồng, tăng 2,77%; thu khác ngân sách và thu ngân sách xã 161,64 tỷ đồng, tăng 5,04%; thu xổ số kiến thiết 167,19 tỷ đồng, tăng 6,21%; thu từ cổ tức và lợi nhuận sau thuế 192,75 tỷ đồng, giảm 30,54%; thu thuế sử dụng đất phi nông nghiệp 10,84 tỷ đồng, giảm 8,01%; thu tiền sử dụng đất 940,46 tỷ đồng, giảm 4,6%.

Tổng chi ngân sách nhà nước địa phương 9 tháng đầu năm 2016 ước được 7.540,05 tỷ đồng, bằng 81,35% dự toán năm, trong đó chi đầu tư phát triển được 2.767,16 tỷ đồng, bằng 120,77% (riêng chi đầu tư xây dựng cơ bản 634,88 tỷ đồng, bằng 77,51%); chi thường xuyên 3.573,55 tỷ đồng, bằng 68,84% dự toán với các khoản chi như: Chi trợ giá trợ cước 8,17 tỷ đồng, bằng 96,33%; chi sự nghiệp kinh tế 356,77 tỷ đồng, bằng 58,18%; chi sự nghiệp văn xã 2.267,58 tỷ đồng, bằng 73,55%; chi quản lý hành chính 738,28 tỷ đồng, bằng 74,87%; chi quốc phòng an ninh 124,36 tỷ đồng, bằng 80,11%; chi khác ngân sách 78,35 tỷ đồng, bằng 24,05%; chi chương trình mục tiêu quốc gia 42 triệu đồng. So cùng kỳ năm trước, tổng chi ngân sách nhà nước địa phương tăng 12,52%, trong đó chi đầu tư phát triển tăng 2,17%; chi thường xuyên tăng 1,96%.

b) Ngân hàng:

9 tháng đầu năm 2016, trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa tăng thêm 01 Chi nhánh ngân hàng thương mại đi vào hoạt động, nâng tổng số chi nhánh TCTD lên 37 Chi nhánh TCTD và 03 Quỹ tín dụng với 155 điểm giao dịch ngân hàng; 310 máy ATM. Lãi suất huy động VND kỳ hạn dưới 1 tháng là 0,5%-1%/năm; lãi suất kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng là 4,8%-5,5%/năm; lãi suất kỳ hạn từ 6 tháng đến dưới 12 tháng là 5,8%-6,6%/năm; đối với kỳ hạn từ 12 tháng trở lên là 6,3%-7,5/năm; lãi suất cho vay ngắn hạn bằng VND áp dụng cho các đối tượng ưu tiên là 6%-7%/năm và trung dài hạn 9%-10%/năm; lãi suất cho vay sản xuất, kinh doanh khác của khối NHTM Nhà nước ngắn hạn ở mức 7%-9,5%/năm; trung dài hạn ở mức 9,7%-11%/năm; khối NHTM cổ phần ngắn hạn ở mức 8,5%-11%/năm; trung dài hạn ở mức 10,5%-11,5%/năm; lãi suất cho vay USD ở mức 2,8%-4,5%/năm đối với ngắn hạn; 4,3%-6,5%/năm đối với trung và dài hạn. Các Chi nhánh TCTD trên địa bàn tỉnh đã tích cực triển khai các giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp phát triển, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp như: Giảm lãi suất cho vay, cơ cấu lại nợ, miễn giảm lãi, cho vay mới phục vụ sản xuất kinh doanh, chủ động tiếp cận doanh nghiệp để nắm bắt nhu cầu vay, cân đối nguồn vốn cho vay, cải cách hành chính, thực hiện tốt các chương trình kinh tế, mặt bằng lãi suất ổn định, tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng tiếp cận vốn ngân hàng. Nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng đến cuối tháng 9/2016 ước được 61.250 tỷ đồng, tăng 23,93% so cùng kỳ năm trước: Huy động vốn bằng VND 59.580 tỷ đồng, tăng 26,62% và huy động vốn bằng ngoại tệ 1.670 tỷ đồng, giảm 29,51%; dư nợ cho vay của các tổ chức tín dụng là 48.470 tỷ đồng, tăng 20,97%: Dư nợ cho vay VND 44.010 tỷ đồng, tăng 23,26% và dư nợ cho vay bằng ngoại tệ 4.460 tỷ đồng, tăng 2,2%.

8. Văn hóa, xã hội

a) Giáo dục: 

Thực hiện theo quy định của UBND tỉnh tất cả các trường mầm non, phổ thông và giáo dục thường xuyên trên địa bàn tỉnh đều đã tổ chức khai giảng năm học mới 2016 - 2017 vào ngày 05/9/2016. Theo kế hoạch, tổng số học sinh mầm non, phổ thông và giáo dục thường xuyên toàn tỉnh là 273.068 học sinh (chưa tính các lớp phổ cập và học nghề), tăng 8.904 học sinh so với năm học trước. Chuẩn bị cho năm học mới, ngành đã tiếp tục đầu tư xây dựng, sửa chữa phòng học, mua sắm trang thiết bị, cơ sở vật chất nhằm phục vụ cho công tác dạy và học: Xây dựng 83 phòng học, 83 phòng phục vụ học tập cho mầm non; 104 phòng học, 40 phòng phục vụ học tập cho tiểu học; 45 phòng học, 18 phòng bộ môn cho cấp THCS... Mạng lưới trường học tiếp tục được mở rộng nhằm đáp ứng nhu cầu học tập của học sinh, đã thành lập thêm trường Tiểu học, THCS Căn cứ Cam Ranh và trường THCS Tô Hạp; đầu tư xây mới và đưa vào sử dụng trường phổ thông Dân tộc nội trú Khánh Sơn; khánh thành và đi vào hoạt động trường THPT Phạm Văn Đồng (giai đoạn 1).

b) Y tế:

Ngành Y tế tăng cường công tác phòng chống dịch, giám sát tả, dịch cúm A (H1N1), (H5N1), các biện pháp phòng chống dịch bệnh mùa hè nhất là dịch Tay – Chân – Miệng, sốt xuất huyết và bệnh do virút Zika. Các bệnh viện đã triển khai tốt công tác khám, chữa bệnh phục vụ nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân. 9 tháng đầu năm 2016, trên địa bàn tỉnh có 3.743 ca sốt xuất huyết (02 trường hợp tử vong); 01 ca Zika; 445 ca bệnh tay chân miệng; đã khám chữa bệnh cho 2.600,63 nghìn lượt người; phẫu thuật 20.704 lượt người; điều trị nội trú 185,57 nghìn lượt người. Chương trình chăm sóc trẻ em như uống Vitamin A, công tác chăm sóc sức khoẻ bà mẹ và trẻ em luôn được chú trọng. Đã thực hiện tiêm đủ liều cho 14.935 trẻ dưới 1 tuổi; tiêm sởi mũi 2 cho 14.881 trẻ em 18 tháng tuổi; tiêm UV2+ cho 13.683 phụ nữ có thai; tiêm UV2 và UV2+ cho 9.034 phụ nữ 15-35. Từ đầu năm đến nay toàn tỉnh xảy ra 4 vụ ngộ độc thực phẩm và 571 trường hợp có biểu hiện rối loạn tiêu hóa sau khi ăn.

Từ đầu năm đến nay đã phát hiện mới 73 trường hợp nhiễm HIV, nâng tổng số người nhiễm HIV đến nay là 3.398 người, trong đó 2.109 trường hợp đã chuyển sang giai đoạn AIDS; 1.211 người chết do AIDS.

c) Văn hóa, thể thao:

Ngành Văn hóa và Thể thao tổ chức các hoạt động tuyên truyền chào mừng Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII, bầu cử Quốc hội khóa XIV và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2016-2021. Các hoạt động văn hóa, lễ hội lớn của tỉnh cũng được tổ chức chu đáo, thiết thực và hiệu quả như: Mừng Đảng mừng Xuân Bính Thân, lễ hội Tháp Bà Ponagar, lễ hội Am Chúa, lễ Giỗ Tổ Hùng Vương, kỷ niệm 71 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9; 55 năm Ngày thảm họa Da cam ở Việt Nam... Đã thực hiện được 1.840 cờ màu và 3.150 cờ Đảng, cờ Tổ quốc, 1.200 phướn, 1.319m2 Pa nô, 2.020 áp phích; Trung tâm điện ảnh tỉnh tổ chức 1.043 buổi chiếu phim lưu động phục vụ nhân dân miền núi, hải đảo, vùng sâu, vùng xa với 168,77 nghìn lượt người xem. Trung tâm Văn hóa tỉnh, nhà hát nghệ thuật truyền thống duy trì việc tổ chức hiệu quả các buổi biểu diễn nghệ thuật Bài Chòi và chương trình “Nghệ thuật đường phố”. Thư viện tỉnh phục vụ 92.733 lượt độc giả: thiếu nhi 15.065 lượt; người lớn: 73.615 lượt; phục vụ truy cập internet 4.053 lượt; luân chuyển sách tại chỗ 363.491 lượt; thực hiện cấp phát gia hạn 1.532 thẻ.

Về thể thao thành tích cao đã tham gia thi đấu tại 41 giải quốc gia và 01 giải quốc tế như: Điền kinh; bóng đá U19; cử tạ, Taekwondo và Kickboxing; giải bóng bàn toàn quốc báo Nhân dân tại thành phố Hồ Chí Minh; giải điền kinh Hà Nội mở rộng; giải vô địch trẻ và Cúp Khiêu vũ thể thao mở rộng tại thành phố Đà Nẵng; Bóng chuyền quốc gia PV GAS tại Yên Bái; Cúp Hùng Vương tại Phú Thọ; đội Vovinam tại An Giang... Tổng số huy chương đạt được từ đầu năm đến ngày 5/9/2016 là 157 bộ huy chương (40 vàng, 54 bạc, 63 đồng); 17 kiện tướng; 59 VĐV cấp I.

Tóm lại: 9 tháng đầu năm 2016, kinh tế cả nước diễn ra trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục xu hướng phục hồi nhưng chậm và chứa đựng nhiều rủi ro, cộng với diễn biến thời tiết bất thường nhưng với sự cố gắng và quyết tâm của cả hệ thống chính trị, sự đồng thuận của nhân dân và sự quan tâm lãnh đạo sâu sát của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh đã tập trung cải thiện đầu tư, huy động mọi nguồn lực để phát triển kinh tế. Nhờ đó, nhiều chỉ tiêu kinh tế tăng khá so cùng kỳ năm trước: Chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 7,54%; tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng tăng 14,8%; kim ngạch xuất khẩu tăng 8,52%; doanh thu du lịch tăng 21,28%; tổng sản phẩm trên địa bàn theo giá so sánh 2010 tăng 9,93%; lạm phát được kiểm soát ở mức thấp... Các lĩnh vực văn hóa, xã hội, môi trường được quan tâm chỉ đạo; an sinh xã hội, phúc lợi xã hội được quan tâm, đời sống nhân dân được nâng lên; công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, đấu tranh chống tham nhũng được chú trọng. Sự nghiệp giáo dục y tế văn hoá thể dục thể thao, khoa học công nghệ... tiếp tục phát triển. An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tiếp tục được giữ vững; tai nạn giao thông giảm ở cả 3 tiêu chí. 

Bên cạnh thành tích đạt được, kinh tế xã hội tỉnh vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức: Thời tiết diễn biến thất thường ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất nông nghiệp; dịch sốt xuất huyết tuy đã có xu hướng giảm nhưng vẫn tiềm ẩn nguy cơ bùng phát; việc tăng nhanh thị trường khách du lịch quốc tế, đã làm nảy sinh nhiều bất cập, vướng mắc trong hoạt động kinh doanh du lịch như: Tình trạng người nước ngoài núp bóng người Việt Nam kinh doanh lữ hành, vận chuyển, lưu trú, ăn uống, mua sắm và các dịch vụ du lịch khác trên địa bàn; tình trạng trốn thuế, tour chui…

Để hoàn thành nhiệm vụ phát triển kinh tế của tỉnh năm 2016, tạo đà cho việc thực hiện thắng lợi kế hoạch phát triển kinh tế 5 năm 2016 – 2020, trong thời gian tới các cấp, các ngành tiếp tục thực hiện đồng bộ, hiệu quả các giải pháp đề ra của Nghị Quyết số 01/NQ-CP ngày 07 tháng 01 năm 2016 của Chính phủ “về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách Nhà nước năm 2016”; và các chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, trong đó cần tập trung thực hiện có hiệu quả một số vấn đề sau: Cần tăng cường theo dõi, giám sát thường xuyên công tác phòng chống dịch bệnh cho người và gia súc gia cầm, phòng chống thiên tai bão lũ; tiếp tục thực hiện các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp; cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh; nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh của tỉnh; đẩy nhanh tiến độ các công trình trọng điểm đường Phong Châu; đường Cao Bá Quát – Cầu Lùng; đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, thể thao; thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội; thực hiện quyết liệt các biện pháp kiềm chế, giảm thiểu tai nạn giao thông; tăng cường công tác quốc phòng an ninh; bảo đảm quốc phòng, an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội./.



Các bài mới nhất


THÔNG TIN MỚI

UBND tỉnh Khánh Hòa tổ chức Hội nghị phổ biến Luật Thống kê

Nghị định số 94/2016/NĐ-CP của Chính phủ : Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thống kê

Nghị định số 95/2016/NĐ-CP của Chính phủ : Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thống kê

Nghị định số 97/2016/NĐ-CP của Chính phủ : Quy định nội dung chỉ tiêu thống kê thuộc hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia

Tình hình kinh tế xã hội tháng 6 năm 2016

Tờ gấp Khánh Hòa
Kinh tế xã hội năm 2015

Quyết định số 1692/QĐ-UBND ngày 14/6/2016 của UBND tỉnh Khánh Hòa "Về việc ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật Thống kê trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa"

Quy trình kiểm tra, giám sát thực hiện phương án điều tra thống kê và chế độ báo cáo thống kê

 LIÊN KẾT WEBSITE